Cân đối nhu cầu doanh nghiệp và sức khỏe ngân hàng

10:09 | 05/11/2021

Thông tư 14 đưa ra nằm trong dự đoán rằng kết thúc dịch trong thời gian ngắn, có tính thời điểm, khi những khó khăn có thể được giải quyết nhờ sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ. Mốc thời gian đặt ra cũng là để thị trường không ỷ lại, để doanh nghiêp cùng với hệ thống các NHTM phấn đấu vượt qua khó khăn. Nhưng nếu đến một thời điểm nào đó cần một chính sách phù hợp hơn với thực tế, thì NHNN cũng sẽ nghiên cứu để sửa đổi, ban hành cho hợp lý nhất.

can doi nhu cau doanh nghiep va suc khoe ngan hang Hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi: Cần chính sách đồng bộ, quyết liệt
can doi nhu cau doanh nghiep va suc khoe ngan hang Đẩy mạnh hoạt động kết nối sau dịch
can doi nhu cau doanh nghiep va suc khoe ngan hang Tích cực hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng Covid-19

Báo cáo từ NHNN cho thấy, tới hết tháng 9/2021, trên toàn hệ thống, các TCTD đã cho vay mới với lãi suất thấp hơn so với trước dịch với doanh số lũy kế từ 23/1/2020 đạt trên 5,2 triệu tỷ đồng cho 800.000 khách hàng. Đồng thời miễn, giảm lãi suất cho khách hàng khoảng 27.000 tỷ đồng. Theo thông tin mới nhất, NHNN công bố, số tiền lãi giảm lũy kế từ 15/7/2021 đến ngày 30/9/2021 của 16 NHTM (chiếm 75% tổng dư nợ nền kinh tế) khoảng 12.236 tỷ đồng, đạt 59,36% so với cam kết nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân vay vốn do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Cụ thể, Agribank xếp đầu bảng với tổng số tiền lãi đã giảm cho khách hàng là 4.885 tỷ đồng; với tổng giá trị nợ được giảm lãi suất là gần 1,27 triệu tỷ đồng cho trên 3,18 triệu khách hàng. Vietcombank, BIDV, VietinBank đều là những ngân hàng ghi nhận số tiền lãi giảm cho khách hàng khá lớn trong hệ thống, đều trên 1.000 tỷ đồng mỗi ngân hàng. Với khối NHTMCP tư nhân, SHB là một trong Top 2 NHTMCP tư nhân giảm lãi suất nhiều nhất hỗ trợ khách hàng ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đã giảm cho khách hàng là 244 tỷ đồng; với tổng giá trị nợ được giảm lãi suất là 129.898 tỷ đồng cho 32.098 khách hàng…

can doi nhu cau doanh nghiep va suc khoe ngan hang
Từ 15/7-30/9/2021, số tiền lãi 16 NHTM đã giảm cho khách hàng khoảng 12.236 tỷ đồng

Với riêng lĩnh vực hàng không - một trong những lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm thời gian qua, để tháo gỡ khó khăn cho Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (VNA), NHNN đã ban hành Thông tư 04/2021/TT-NHNN tái cấp vốn 4.000 tỷ đồng, lãi suất 0%, không có tài sản đảm bảo cho TCTD cho vay VNA. Cơ quan điều hành cũng đã ban hành Quyết định tái cấp vốn và giải ngân tái cấp vốn cho TCTD sau khi TCTD cho VNA vay vốn theo Nghị quyết của Chính phủ. Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, dư nợ tín dụng của các hãng hàng không tại các TCTD hiện khoảng hơn 24.000 tỷ đồng, dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ là hơn 2.500 tỷ đồng. Các TCTD đã điều chỉnh giảm lãi suất cho vay từ 0,5% đến 1%/năm, số tiền lãi được giảm khoảng 130 tỷ đồng…

Trao đổi với phóng viên, giới chuyên gia đều nhìn nhận, ngành Ngân hàng thời gian qua đã làm rất tốt hai nhiệm vụ song song cùng một lúc. Theo đó vừa đảm bảo an toàn hệ thống, đảm bảo mục tiêu ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền nhưng cũng đồng thời hỗ trợ nền kinh tế, doanh nghiệp. “NHNN đã điều hành chính sách và điều phối hoạt động khá hài hoà, nhịp nhàng, hợp lý trong suốt 10 tháng vừa qua, đây là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng để nền kinh tế có thể phục hồi tốt”, một chuyên gia chia sẻ.

Khảo sát mới đây của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân - Ban IV thuộc Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp bị thiệt hại do đại dịch Covid-19 cho thấy, đang có sự sụt giảm kỳ vọng từ phía doanh nghiệp đối với các chính sách hỗ trợ thời gian qua. Với doanh nghiệp, mong mỏi vẫn là có thể giảm thêm lãi và xem xét nới thêm điều kiện cho vay. Bài toán đặt ra là làm sao để có thể tìm được điểm chạm giữa nhu cầu của doanh nghiệp và đảm bảo an toàn tài chính cho ngân hàng.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh - Giảng viên cao cấp Học viện Tài chính cho biết, đã có nhiều ý kiến về việc có nên nới điều kiện này, điều kiện kia thêm một chút, cho doanh nghiệp dễ thở hơn… hay không? Song ông Thịnh cho rằng, dưới góc độ của nền kinh tế, thì mọi quyết sách từ phía cơ quan điều hành buộc phải rất thận trọng; những quyết định dễ dãi, vội vàng của ngày hôm nay rất có thể sẽ khiến chúng ta phải trả một cái giá đắt gấp nhiều lần trong tương lai.

“Tạo điều kiện để có thể mở thêm tín dụng nếu nhu cầu nền kinh tế cần là điều nên làm, song câu chuyện giảm chất lượng, điều kiện tín dụng thì không nên đặt ra ở đây. Vừa mở rộng được tín dụng, hỗ trợ được vốn cho doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp khó khăn do tác động bởi dịch Covid-19 nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng tín dụng để kiểm soát được nợ xấu. Nợ xấu là vấn đề không chỉ là trung hay dài hạn, mà phải tập trung ngay trước mắt”, chuyên gia này chia sẻ.

Dưới góc độ ngân hàng, Tổng Giám đốc TPBank Nguyễn Hưng cũng chia sẻ, không nên quá lạc quan về kết quả kinh doanh của các ngân hàng năm nay, vì chỉ tính riêng ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 trong tháng 7-8 vừa qua đã tác động rất mạnh mẽ tới tình hình kinh doanh của các nhà băng. Và nếu tính đầy đủ những khoản nợ hiện đang được cơ cấu lại theo quy định tại Thông tư 14/2021/TT-NHNN (sửa đổi Thông tư 01/2020/TT-NHNN) thì có thể bị chuyển sang nợ xấu rồi. Các ngân hàng cũng đã chuyển hướng sang tập trung khai thác sản phẩm, dịch vụ trực tuyến để tiết kiệm chi phí, đồng thời cắt giảm chi phí hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng rủi ro, giảm chỉ tiêu lợi nhuận để tạo thêm điều kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp những tháng cuối năm.

Trong một trao đổi gần đây với phóng viên, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú ví von, các NHTM như đang “đi trên dây” khi hỗ trợ doanh nghiệp. Bởi nếu quá chặt chẽ thì doanh nghiệp đã khó càng thêm khó, ngân hàng huy động vào mà không cho vay ra được cũng thật sự là rủi ro. Nhưng nếu cầu tín dụng bao nhiêu mà cho vay hết, sau này nếu trường hợp không trả được nợ thì thanh khoản ngân hàng sẽ ảnh hưởng cả nền kinh tế, chứ không riêng gì một nhà băng nào. Mọi quyết sách, chính sách, cơ chế đều phải phù hợp và cân đối theo tình hình thực tế.

Đơn cử như Thông tư 14, mong muốn của doanh nghiệp là kéo dài thời gian hơn và mở rộng một số điều kiện đều rất chính đáng. Theo Phó Thống đốc Đào Minh Tú, bản thân ngân hàng cũng rất mong có thể hỗ trợ được tối đa cho doanh nghiệp, bởi đây là mối quan hệ cộng sinh cùng phát triển. Thông tư 14 đưa ra nằm trong dự đoán rằng kết thúc dịch trong thời gian ngắn, có tính thời điểm, khi những khó khăn có thể được giải quyết nhờ sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ. Mốc thời gian đặt ra cũng là để thị trường không ỷ lại, để doanh nghiêp cùng với hệ thống các NHTM phấn đấu vượt qua khó khăn. Nhưng nếu đến một thời điểm nào đó cần một chính sách phù hợp hơn với thực tế, thì NHNN cũng sẽ nghiên cứu để sửa đổi, ban hành cho hợp lý nhất.

Minh Khuê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.540 22.850 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.570 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.562 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.610 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.565 22.857 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.585 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.600 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.620 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.050
61.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.050
61.650
Vàng SJC 5c
61.050
61.670
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900