Cần hình thành văn hóa xếp hạng tín nhiệm trái phiếu DN

10:10 | 20/11/2020

Theo ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch HoREA, hiện nay chưa có các tổ chức tư vấn uy tín đánh giá, xếp hạng tín nhiệm DN, trong đó có DN phát hành trái phiếu, để đảm bảo minh bạch thông tin và góp phần bảo vệ nhà đầu tư.

Tài liệu mới được công bố của FiinRating - Bộ phận xếp hạng tín nhiệm thuộc FiinGroup - ghi nhận hoạt động phát hành trái phiếu DN ở Việt Nam có bước tăng trưởng mạnh mẽ trong 5 năm qua. Nếu năm 2016, quy mô phát hành trái phiếu DN chỉ đạt 100 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2020, tổng giá trị phát hành trái phiếu DN trong 10 tháng đã đạt hơn 345 nghìn tỷ đồng. Đối tượng tham gia mua trái phiếu DN cũng đã thay đổi khi nhà đầu tư cá nhân ngày càng góp mặt nhiều hơn trong hoạt động mua các quỹ trái phiếu và đầu tư trực tiếp. Các DN bất động sản (BĐS) là những nhà phát hành tích cực nhất trong cuộc đua huy động vốn bằng trái phiếu và cũng thường đưa ra mức lãi suất cao nhất để thu hút nhà đầu tư.

can hinh thanh van hoa xep hang tin nhiem trai phieu dn
Ảnh minh họa

Nhưng điều mà đáng quan ngại, theo nhận định của ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch HoREA, đó là tỷ lệ nhà đầu tư trái phiếu là cá nhân chiếm đến hơn 20% số lượng nhà đầu tư và nguồn vốn đầu tư trái phiếu DN của các TCTD chiếm tỷ trọng lớn nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chưa kể so với năm trước, năm 2020 thị trường trái phiếu đối mặt với rủi ro tăng cao khi đa nhiều DN phát hành có tình hình tài chính xấu đi do tác động của dịch Covid-19. Dữ liệu của FiinRating về 71 công ty BĐS phát hành trái phiếu trong 9 tháng của năm 2020 cho thấy chỉ tiêu Debt/EBITDA đã tăng lên 7,11 lần so với mức 4,68 lần thời điểm cuối năm 2019. “Debt/EBITDA là hệ số đo lường khả năng thanh toán khoản nợ phát sinh của DN. Các công ty xếp hạng tín nhiệm sử dụng hệ số để đánh giá rủi ro vỡ nợ của tổ chức phát hành. Khi tỷ lệ Debt/EBITDA cao, xếp hạng của công ty có xu hướng bị hạ thấp do những khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính và nợ”, FiinRating thông tin thêm.

Nghị định 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu DN được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 1/9/2020 quy định chặt chẽ hơn các điều kiện phát hành nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng thị trường trái phiếu DN. Theo đó, Nghị định 81 quy định dư nợ phát hành trái phiếu riêng lẻ tại thời điểm phát hành bao gồm cả khối lượng dự kiến phát hành không vượt quá 5 lần vốn chủ sở hữu tại quý gần nhất. Các đợt phát hành phải cách nhau tối thiểu 6 tháng, mỗi đợt phải hoàn thành trong vòng 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin. DN phát hành bắt buộc phải có hợp đồng tư vấn với tổ chức tư vấn; bổ sung yêu cầu báo cáo tài chính kiểm toán trong hồ sơ phát hành phải có ý kiến chấp nhận toàn phần, nếu ngoại trừ phải có giải thích hợp lý và xác nhận của kiểm toán.

Với sự kiểm soát chặt chẽ hơn như vậy, lượng trái phiếu DN phát hành trong tháng 9/2020 giảm đến 84% so với tháng 8/2020 và tiếp tục sụt giảm trong tháng 10 khi lượng trái phiếu DN phát hành trong tháng này giảm 39,4% so với tháng 9 và giảm tới 90% so với tháng 8.

Ông Khổng Phan Đức - Chủ tịch Công ty Quản lý quỹ VietinBank cho rằng, đáng lẽ Nghị định 81 ra càng sớm càng tốt. Thường những dự án rủi ro, các ngân hàng không dám cho vay. Khi không vay được của ngân hàng, DN sẽ tìm đến thị trường trái phiếu. Mà nhà đầu tư lại đang tỏ ra “rất dễ dãi” khi mua trái phiếu DN, kể cả các đợt phát hành riêng lẻ dù DN phát hành không dựa vào xếp hạng tín nhiệm, các thông tin không được minh bạch. Theo chia sẻ của ông Đức, hiện tại nhà đầu tư mua trái phiếu DN chủ yếu dựa vào báo cáo tài chính, thông tin nội bộ và tin vào cam kết mua lại trái phiếu DN của một đơn vị nào đó. Tuy nhiên, điều này không có gì đảm bảo. Có DN phát hành tới 10.000 tỷ đồng trái phiếu, song DN phân phối cam kết mua lại chỉ 1.000 - 2.000 tỷ đồng. “Để an toàn, nhà đầu tư nên mua chứng chỉ quỹ, bởi chứng chỉ quỹ đảm bảo hơn so với trái phiếu DN. Tiếc là việc thông qua các quỹ để quản lý danh mục đầu tư của nhà đầu tư Việt chưa trở thành xu hướng”, ông Khổng Phan Đức nói thêm.

Một bất cập lớn nữa liên quan đến thị trường này được ông Lê Hoàng Châu đề cập tới là hiện nay chưa có các tổ chức tư vấn uy tín đánh giá, xếp hạng tín nhiệm DN, trong đó có DN phát hành trái phiếu, để đảm bảo minh bạch thông tin và góp phần bảo vệ nhà đầu tư. Đó cũng là mong mỏi của TS. Nguyễn Trí Hiếu. Vị chuyên gia này lo ngại, trong bối cảnh thị trường trái phiếu DN tăng trưởng nóng, các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân khả năng đánh giá phân tích DN hạn chế, lại thiếu các công cụ đánh giá mức độ chính xác của thông tin DN khiến khoản đầu tư trái phiếu DN của họ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thực tế cho thấy, ở các nước trên thế giới, xếp hạng tín nhiệm là một trong những điều kiện để DN phát hành trái phiếu. Báo cáo tài chính của DN phát hành cũng phải theo chuẩn quốc tế. Đây là yêu cầu để nhà đầu tư tham khảo, đưa ra quyết định.

Tại cuộc hội thảo phát triển hoạt động xếp hạng tín nhiệm do ADB và Bộ Tài chính phối hợp tổ chức mới đây, đại diện Bộ Tài chính cho biết, cơ quan này đang trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định cụ thể về trường hợp DN khi phát hành trái phiếu ra công chúng phải xếp hạng tín nhiệm và đưa ra lộ trình thực hiện. Các quy định này được lãnh đạo Bộ Tài chính kỳ vọng sẽ kích cầu sử dụng dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, từng bước hình thành văn hóa xếp hạng tín nhiệm đối với phát hành trái phiếu.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.040 23.250 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.060 23.240 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.020 23.250 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.060 23.235 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.050 23.230 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.050 23.230 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.062 23.277 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.051 23.251 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.050 23.230 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.070 23.220 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.150
55.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.150
55.600
Vàng SJC 5c
55.150
55.620
Vàng nhẫn 9999
53.300
53.800
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.500