Cần thêm chất xúc tác cho thị trường trái phiếu DN

09:52 | 26/10/2020

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, thị trường trái phiếu DN của Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng kể từ năm 2017. Trong năm 2019, lượng phát hành đạt trị giá 12,8 tỷ USD, lớn hơn so với con số của Indonesia và Philippines. Trái phiếu phát hành riêng lẻ chiếm tới 94% tổng lượng trái phiếu DN phát hành trong năm 2018 và 2019.

can them chat xuc tac cho thi truong trai phieu dn Siết chặt điều kiện phát hành trái phiếu DN
can them chat xuc tac cho thi truong trai phieu dn Đầu tư trái phiếu DN phải am hiểu luật chơi
can them chat xuc tac cho thi truong trai phieu dn Trái phiếu DN “tựa” ngân hàng để lớn

Thống kê của Ban Kinh tế Trung ương cũng cho thấy, khối lượng phát hành trái phiếu DN thành công trong năm 2019 đạt khoảng 270 ngàn tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2018, đưa quy mô thị trường lên mức gần 11% GDP, vượt cả mục tiêu 7% GDP vào năm 2020 được Chính phủ đặt ra trong Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn 2030.

TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia đánh giá, thời gian vừa qua, thị trường trái phiếu DN có bước tiến khá tốt cả về quy mô, tính đa dạng trái phiếu, về cơ cấu thời hạn, trở thành một phương thức huy động vốn hiệu quả cho DN. Một chuyên gia cũng cho rằng, thị trường trái phiếu DN có bước tiến khá mạnh trong thời gian qua một phần cũng nhờ Nghị định 163/2018/NĐ-CP đã tháo gỡ nhiều nút thắt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trái phiếu của DN. Bên cạnh đó, lãi suất trái phiếu lại khá hấp dẫn nên đã thu hút một lượng không nhỏ các nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư cá nhân tham gia vào thị trường này.

can them chat xuc tac cho thi truong trai phieu dn

Tuy nhiên thị trường trái phiếu DN đang có dấu hiệu phát triển nóng. Bên cạnh đó xu hướng nhà đầu tư cá nhân tham gia mua trái phiếu DN ngày càng tăng. Bên cạnh nhà đầu tư cá nhân có tiềm lực tài chính, có kinh nghiệm đầu tư còn có các nhà đầu tư nhỏ, lẻ năng lực tài chính hạn chế và không có kinh nghiệm đầu tư. Trong khi không ít DN phát hành tập trung chào bán trái phiếu DN phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư cá nhân.

Chính sự gia tăng của nhà đầu tư cá nhân gồm cả nhà đầu tư cá nhân nhỏ, lẻ trong khi chưa tiếp cận đầy đủ thông tin về mục đích phát hành, tình hình tài chính, khả năng trả nợ, đặc điểm của trái phiếu, đồng thời thiếu khả năng phân tích, đánh giá tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư này.

Bởi thế, mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2018/NĐ-CP, trong đó bổ sung quy định về giới hạn dư nợ trái phiếu DN phát hành riêng lẻ tại thời điểm phát hành (bao gồm cả khối lượng dự kiến phát hành) không vượt quá 5 lần vốn chủ sở hữu. Bên cạnh đó mỗi đợt phát hành phải hoàn thành trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin trước khi phát hành; đợt phát hành sau phải cách đợt phát hành trước tối thiểu 6 tháng...

ADB cũng chỉ ra thêm bất cập đối với thị trường trái phiếu DN của Việt Nam cần phải khắc phục trong thời gian tới. Đó là việc thiếu xếp hạng tín nhiệm đặt ra những rủi ro đáng kể đối với thị trường trái phiếu và lĩnh vực tài chính. Do vậy, theo ADB việc có một cơ quan xếp hạng tin cậy, uy tín là một trong những mảnh ghép cần thiết mà thị trường trái phiếu DN Việt Nam đang thiếu. Việc sớm có cơ quan xếp hạng của Việt Nam sẽ là một chất xúc tác quan trọng cho sự phát triển của thị trường này.

Đề xuất trên không phải quá mới mẻ đối với Việt Nam mà cũng đã được đề cập đến trên cả diễn đàn cũng như qua văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể, Thủ tướng đã phê duyệt Quy hoạch phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, đến năm 2030 dự kiến sẽ cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho tối đa 5 DN và tầm nhìn đến năm 2020, các đợt phát hành trái phiếu của DN đều phải được xếp hạng tín nhiệm.

Hiện tại, ở Việt Nam cũng đã có một vài DN có giấy phép hoạt động trong lĩnh vực này. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là những DN trên chưa đủ tầm, uy tín để thị trường thực sự tin vào mức độ đánh giá của họ do vậy hoạt động của các DN trên khá mờ nhạt. Các DN Việt khi muốn phát hành trái phiếu ra quốc tế phần lớn đều nhờ tới các tổ chức định hạng tín nhiệm quốc tế như Moody’s, Fitch... Nhưng đi kèm các dịch vụ này các chi phí cao nên chỉ có DN lớn mới kham được. Đó cũng là rào cản đối với các DN có quy mô nhỏ. Khắc phục điều này và muốn thực sự phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam, TS. Võ Trí Thành cho rằng, tại Việt Nam cần thiết thành lập các công ty định hạng tín nhiệm uy tín tại Việt Nam. Khi DN được xếp hạng tín nhiệm, nhà đầu tư có thể yên tâm hơn khi đầu tư vào trái phiếu.

Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước, có thể là thành lập tổ chức định mức tín nhiệm của nhà nước hoặc có thể “mix” các công ty định hạng tín nhiệm nước ngoài vào liên kết với DN trong nước để tạo niềm tin và uy tín cho thị trường. “Dù có nhiều cách thức, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của công ty này là độc lập, tránh xung đột lợi ích, quyền tiếp cận thông tin minh bạch...”, TS. Võ Trí Thành lưu ý và nhấn mạnh, tại các thị trường phát triển, những tổ chức xếp hạng tín nhiệm có vai trò trung lập, từ đó đưa ra đánh giá, xếp hạng một cách khách quan đối với tổ chức phát hành để nhà đầu tư làm cơ sở lựa chọn quyết định đầu tư.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.040 23.250 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.070 23.250 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.028 23.258 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.060 23.235 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.050 23.230 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.050 23.230 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.056 23.271 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.048 23.248 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.050 23.230 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.070 23.220 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.750
55.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.750
55.200
Vàng SJC 5c
54.750
55.220
Vàng nhẫn 9999
53.200
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400