Cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát

12:26 | 30/09/2022

Mức tăng 2,73% CPI bình quân 9 tháng so với cùng kỳ năm trước là thành công lớn, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, vẫn tiềm ẩn những yếu tố có khả năng tác động làm tăng CPI trong những tháng cuối năm 2022 và đặc biệt là năm 2023.

lam phat binh quan 9 thang tang 273 thanh cong lon nhung van ap luc van hien huu
Bà Nguyễn Thu Oanh

Chia sẻ với báo chí, bà Nguyễn Thu Oanh, Vụ trưởng Vụ Thống kê Giá, Tổng cục Thống kê cho rằng, vẫn cần nhiều giải pháp điều hành để kiểm soát được lạm phát những tháng còn lại của năm 2022 cũng như tạo nền tảng thuận lợi cho việc kiểm soát lạm phát trong năm 2023.

Theo bà, những yếu tố chính nào đã giúp kiềm chế lạm phát 9 tháng đầu năm 2022?

Để chủ động ứng phó với áp lực lạm phát gia tăng, trong thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương ban hành kịp thời nhiều chính sách, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.

Các chính sách phù hợp cùng với sự quyết liệt, sát sao trong chỉ đạo, điều hành đã giúp giảm áp lực đáng kể lên mặt bằng giá, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của nhân dân. Một số chính sách rất hiệu quả như: Giảm thuế giá trị gia tăng với một số nhóm hàng hóa và dịch vụ từ 10% xuống 8%; giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay; giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022...

Trong khi đó, các nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có tác động lớn tới CPI được kiểm soát giá chặt chẽ. Đơn cử, trong năm học 2021-2022, nhiều địa phương thực hiện miễn, giảm học phí để chia sẻ khó khăn cho người dân trong đại dịch đã giúp chỉ số giá dịch vụ giáo dục 9 tháng đầu năm giảm 1,88% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung giảm 0,1%.

Hay đối với giá dịch vụ y tế, nếu thực hiện giá dịch vụ khám chữa bệnh theo đúng lộ trình thì năm 2021 phải hoàn thành việc tính đủ các loại chi phí theo quy định của pháp luật về giá. Tuy nhiên, việc điều chỉnh này đến nay chưa hoàn thành cũng góp phần kiềm chế tốc độ tăng của CPI.

Thêm vào đó, EVN đã chủ động đề xuất chưa tăng giá điện trong năm nay mặc dù chi phí đầu vào của ngành này như giá xăng dầu, giá than đều đã tăng rất cao. Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá nhóm điện trong CPI cứ tăng 10% sẽ tác động làm CPI tăng 0,33%.

Đồng thời, Chính phủ và các Bộ, ngành liên tục chỉ đạo các địa phương thực hiện quản lý giá trên địa bàn, nhiều doanh nghiệp tích cực tham gia chương trình bình ổn giá, bảo đảm đầy đủ các hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu của người dân, đặc biệt là mặt hàng lương thực, thực phẩm. Ngoài việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng ở trong nước, xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng đang tăng mạnh, trong quý 3 năm nay lượng gạo xuất khẩu đã tăng gần 27% so với cùng kỳ năm trước. Có lợi thế chủ động được về lương thực, thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong kiềm chế lạm phát ở Việt Nam.

Giá thịt lợn bình quân 9 tháng năm nay giảm 15,99% so với cùng kỳ năm trước cũng là yếu tố giúp kiềm chế tốc độ tăng của CPI. Cụ thể, bình quân 9 tháng qua, nhiều mặt hàng thực phẩm có chỉ số giá tăng cao như dầu ăn tăng 17,87%; trứng tăng 10,35%; rau tăng 10,4%; thủy sản tươi sống tăng 3,89%... nhưng riêng thịt lợn giảm giá đã tác động làm CPI giảm 0,54%.

Tuy nhiên cũng theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, lạm phát vẫn là vấn đề cần được theo dõi chặt chẽ trong thời gian tới. Bà có thể chia sẻ thêm về những sức ép trong thời gian tới?

Kiểm soát tốt lạm phát trong 9 tháng qua giúp Việt Nam có dư địa để đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2022 như Quốc hội đề ra. Tuy nhiên, hiện nay vẫn tiềm ẩn những yếu tố có khả năng tác động làm tăng CPI trong những tháng cuối năm 2022 và đặc biệt là năm 2023, cụ thể:

Giá nguyên nhiên vật liệu trên thế giới đang ở mức cao trong khi Việt Nam là nước nhập khẩu nhiều nguyên liệu phục vụ sản xuất nên việc nhập khẩu nguyên liệu với mức giá cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí, giá thành, tạo áp lực cho sản xuất của doanh nghiệp và từ đó đẩy giá hàng hóa tiêu dùng trong nước tăng lên. Đồng thời, đô la Mỹ đang tăng giá càng làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, do đó sẽ càng gây sức ép lên mặt bằng giá trong nước.

Bình quân 9 tháng đầu năm nay, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 10,86%, cao nhất kể từ năm 2012 trong khi nhập khẩu tư liệu sản xuất chiếm tới 93,9% tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng. Điều này cho thấy doanh nghiệp đang phải chịu sức ép rất lớn về chi phí sản xuất.

Giá xăng dầu thế giới thời gian gần đây có xu hướng giảm nhưng dự báo vẫn biến động phức tạp và rất khó dự đoán trước các yếu tố bất định lớn hiện nay. Trong khi đó, giá lương thực, thực phẩm, đồ uống, may mặc thường tăng theo quy luật vào các tháng cuối năm và dịp lễ Tết. Ngoài ra, thiên tai và dịch bệnh có thể gây ảnh hưởng đến giá lương thực, thực phẩm tại một số địa phương bị ảnh hưởng, điều này cũng sẽ tác động làm tăng CPI. Trong đó, giá thịt lợn có thể tăng vào các tháng cuối năm nếu nguồn cung không được bảo đảm.

Kinh tế trong nước đang trong giai đoạn phục hồi rõ nét; cầu tiêu dùng hàng hóa trong dân những tháng tới dự kiến sẽ tăng mạnh, các hoạt động dịch vụ cũng sẽ tăng cao, từ đó có thể đẩy giá cả hàng hóa và dịch vụ lên cao. Việc tập trung thúc đẩy triển khai Chương trình phục hồi, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công vào các tháng cuối năm cũng có thể làm tăng giá các mặt hàng vật liệu xây dựng, qua đó tác động vào giá cả các hàng hóa khác và tạo nên áp lực lạm phát.

Ngoài ra, thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ do nhà nước quản lý cũng sẽ có thể tác động mạnh tới CPI. Như tháng 9 năm nay bắt đầu vào năm học mới 2022-2023, thực hiện miễn giảm học phí của nhiều địa phương trong năm học 2021-2022 đã kết thúc, đồng thời một số địa phương thực hiện tăng học phí đã khiến cho chỉ số giá dịch vụ giáo dục tháng 9 tăng tới 8,9% so với cùng kỳ năm trước và sẽ tiếp tục tác động đến những tháng tiếp theo của năm học 2022-2023. Dịch vụ y tế nếu được điều chỉnh giá theo lộ trình cũng sẽ tác động tới CPI trong thời gian tới...

Để kiểm soát lạm phát những tháng còn lại của năm 2022 cũng như tạo nền tảng thuận lợi cho việc kiểm soát lạm phát trong năm 2023, cần tập trung vào các giải pháp nào, thưa bà?

Tổng cục Thống kê có kiến nghị một số giải pháp điều hành. Theo đó, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới, kịp thời cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến giá cả, lạm phát của Việt Nam để có các biện pháp ứng phó phù hợp nhằm đảm bảo nguồn cung, bình ổn giá trong nước.

Các Bộ, ngành, địa phương phải chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng nhằm đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu của người dân đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm, hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu. Đối với mặt hàng thịt lợn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chú trọng công tác bảo đảm nguồn cung, nhất là giai đoạn cuối năm. Bộ Công Thương và các địa phương phải tăng cường kiểm soát các khâu trung gian, lưu thông trên thị trường nhằm ổn định giá của mặt hàng này.

Đối với mặt hàng xăng dầu, cần đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước, không để xảy ra gián đoạn nguồn cung. Đồng thời nghiên cứu các giải pháp giảm thuế để chia sẻ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn giá xăng dầu tăng cao. Cần kiểm soát giá các loại nguyên vật liệu đầu vào, tăng cường sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước dần thay thế nguồn nhập khẩu.

Cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, đặc biệt bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn tín dụng cho nền kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát.

Tăng cường công tác thông tin, truyền thông nhằm đưa thông tin kịp thời, minh bạch, tạo sự đồng thuận trong dư luận đối với công tác điều hành giá của Chính phủ, ổn định tâm lý người tiêu dùng và ổn định kỳ vọng lạm phát.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000