Cánh đồng mẫu lớn: Doanh nghiệp không thể làm một mình

10:04 | 29/07/2013

Vướng mắc lớn nhất trong xây dựng cánh đồng mẫu lớn (CĐML) hiện nay nằm ở khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Với cách làm khép kín của Tổng công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS), khâu này đã được DN đảm bảo. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình lại không thể tìm được DN có đủ khả năng như AGPPS.

3 năm trước, khoảng quý III/2010, Tổng công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) bắt đầu triển khai chương trình “Đầu tư, thu mua và chế biến lúa gạo” với mô hình CĐML đầu tiên được thực hiện tại xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, An Giang. Thực hiện chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo khép kín từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu đến bao tiêu sản phẩm với bà con nông dân, AGPPS vừa cung ứng giống, thuốc, phân bón với lãi suất 0% trong suốt vụ, vừa hỗ trợ miễn phí các khoản bao bì, vận chuyển, sấy và thu mua theo giá thị trường. Đồng thời, đội ngũ kỹ thuật viên của DN cũng trực tiếp hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông dân.

Nghiên cứu của TS. Lê Nguyễn Đoan Khôi (Khoa Kinh tế, Đại học Cần Thơ) về hiệu quả những mô hình CĐML của AGPPS thực hiện tại tỉnh An Giang cho thấy, những hộ nông dân tham gia mô hình có hiệu quả sử dụng vốn cao hơn so với các hộ tự trồng lúa nhỏ lẻ. Cụ thể, nếu đầu tư 1 đồng chi phí thì các hộ trong mô hình thu được 0,75 đồng lợi nhuận, trong khi các hộ sản xuất ngoài mô hình chỉ thu được 0,39 đồng, tức gấp 2 lần. Cũng do quy mô sản xuất lớn hơn, năng suất lao động cao hơn.


Mô hình CĐML đem lại hiệu quả cao cho nông dân

Theo tính toán của TS. Khôi, giá trị ngày công lao động của các hộ tham gia mô hình CĐML vào khoảng 172.800 đồng/ngày công, trong khi các hộ sản xuất truyền thống chỉ đạt 87.200 đồng/ngày công, tức là cũng gấp gần hai lần. Trong khi đó, do được AGPPS ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, các hộ tham gia mô hình CĐML tránh được các biến động về giá thu mua lúa khi vào vụ thu hoạch. Giá bán lúa luôn cao hơn khoảng 1.000 đồng/kg so với các hộ ngoài mô hình.

Từ cơ sở hiệu quả đem lại đối với người trồng lúa, mô hình CĐML đã được AGPPS nhân rộng trong 3 năm qua, nâng diện tích vùng nguyên liệu của DN lên mức 34.400 ha. Dự kiến đến 2018, DN sẽ phát triển mô hình CĐML lên 360.000 ha, nâng công suất hoạt động các nhà máy chế biến nguyên liệu lên 2,4 triệu tấn lúa/năm… Mong muốn là vậy. Tuy nhiên, những thành công bước đầu của AGPPS được giới chuyên gia đánh giá là không thể nhân rộng. Bởi trên thực tế, để bao quát được toàn bộ chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho mô hình CĐMT, chi phí bỏ ra không hề nhỏ.

PGS. TS. Phạm Văn Dư, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phân tích, AGPPS vốn xuất thân từ DN kinh doanh vật tư, thuốc bảo vệ thực vật, nay phải lo luôn cả khâu cung ứng giống, phân bón, kỹ thuật canh tác, rồi chế biến, xuất khẩu. Dù có tiềm lực lớn, AGPPS chỉ có thể làm ở một quy mô nhất định chứ khó bao hết cả vùng. Lãnh đạo AGPPS thừa nhận, mô hình CĐML mà DN này đang triển khai chưa mang lại hiệu quả tức thì. Thậm chí, DN phải chịu lỗ để đầu tư nhà máy chế biến lúa gạo và kho trữ lúa...

Chính vì điều này, tại các đại hội cổ đông của AGPPS, nhiều cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đã bỏ phiếu phủ quyết việc tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh lúa gạo. Ông Dư bình luận thêm: “DN dù có chiến lược chịu lỗ đầu tư lâu dài thì cuối cùng vẫn phải tính đến việc đảm bảo lợi ích của cổ đông…”.

Phân tích từ trường hợp của AGPPS, ông Dư cho rằng, vướng mắc lớn nhất trong xây dựng CĐML hiện nay nằm ở khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Với cách làm khép kín của AGPPS, khâu này đã được DN đảm bảo. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình lại không thể tìm được DN có đủ khả năng như AGPPS. Để tháo gỡ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra được bộ tiêu chí xây dựng CĐML.

Theo đó, thay vì một tay DN phải lo hết từ đầu vào đến đầu ra, nhiều DN sẽ cùng chung tay, liên kết. Các DN cung ứng vật tư đầu vào sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Trung tâm khuyến nông các tỉnh tập hợp nông dân vào các hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT) để sản xuất lúa theo quy trình an toàn, hạn chế dịch bệnh và đảm bảo năng suất chất lượng. Các DN kinh doanh xuất khẩu gạo sẽ căn cứ trên nhu cầu thị trường để đặt hàng cơ sở cung ứng lúa giống, sau đó đặt hàng các HTX, THT sản xuất theo yêu cầu của mình và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm.

Theo ông Dư, với cách làm này, vai trò của DN xuất khẩu lúa gạo có tính chất quyết định. Họ phải đầu tư tái cơ cấu để không chỉ hoạt động đơn thuần trong lĩnh vực thương mại mà cần có các nghiên cứu về nhu cầu thị trường để tư vấn, đặt hàng cụ thể đối với các HTX, THT và các bên tham gia sản xuất. “Việc thay đổi cách đầu tư kinh doanh phải được các DN xuất khẩu xem như là hợp tác tất yếu, trên nguyên tắc các bên cùng có lợi, chứ không phải chỉ tập trung vào việc bán gạo theo cách truyền thống là mua qua thương lái và nhiều cấp đại lý như hiện nay”, ông Dư nói.

Đồng tình quan điểm này, GS. Võ Tòng Xuân, nguyên Viện trưởng Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, một khi chuỗi liên kết này chưa lôi kéo được các DN xuất khẩu vào cuộc thì vấn đề tiêu thụ sản phẩm sẽ vẫn còn là bài toán khó.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2012 chỉ có 2,1% sản lượng lúa hàng hóa, 13% sản lượng thủy sản, 0,9% sản lượng rau quả, 2,5% sản lượng cà phê, 9% sản lượng chè… được bán cho DN thông qua các hợp đồng ký kết. Riêng về lúa gạo, thống kê của Tổng công ty Lương thực miền Nam cho thấy, có tới 36% sản lượng gạo xuất khẩu của đơn vị này được mua từ các thương lái.

Bài và ảnh Thạch Bình

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950