Chăn nuôi cũng phải hướng tới xuất khẩu

14:50 | 12/09/2018

Xây dựng chiến lược để Việt Nam sớm trở thành quốc gia an toàn thực phẩm....

VIETSTOCK 2018: Kết nối thị trường tiềm năng cho các sản phẩm chăn nuôi, thủy sản
Mở lối cho xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi

Mới làm tốt khâu sản xuất

Theo thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), kim ngạch xuất khẩu nông – lâm – thủy sản những năm gần đầy đều đạt trên 30 tỷ USD và ước tính năm nay kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này có thể đạt tới 40 tỷ USD.

DN Việt cần đầu tư về công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm

Tuy nhiên, dù Việt Nam là quốc gia có tiềm năng chăn nuôi lớn với năng suất sản xuất 27,5 đến 28 triệu con lợn, 300 triệu con gia cầm… nhưng sản phẩm ngành chăn nuôi chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu của ngành nông nghiệp. Trong đó, phần lớn là xuất khẩu lợn hơi sang Trung Quốc bằng con đường tiểu ngạch.

Đáng chú ý, mặc dù chất lượng con giống hiện đã được cải thiện ngang bằng với các nước phát triển trong khu vực; lượng thức ăn chăn nuôi đứng thứ nhất trong khu vực với sản lượng 31 triệu tấn/năm; công nghệ, quy trình luôn được nâng cao… nhưng ngành chăn nuôi mới chỉ làm tốt khâu thúc đẩy sản xuất.

Thị trường sản phẩm chăn nuôi khá ảm đạm khi vẫn đang trong tình trạng cung vượt cầu và phải đối mặt với các hàng rào nhập khẩu của các nước dựng lên để ngăn ngừa dịch bệnh. Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi vẫn chịu nhiều áp lực lớn khi kim ngạch nhập khẩu ngày càng tăng.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) dẫn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, nửa đầu năm 2018, Việt Nam đã nhập khẩu gần 140.000 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, với trị giá 216,3 triệu USD, tương đương mức giá trung bình 35.500 đồng/kg. Đáng chú ý, trong tháng 6/2018, Việt Nam đã nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ đạt 678 tấn, trị giá 1,03 triệu USD.

Ông Nguyễn Xuân Dương - Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) cho hay, chế biến và thị trường là hai điểm yếu nhất của ngành chăn nuôi hiện nay. Đang yếu chỗ nào thì cần phải bù đắp cung cấp chỗ đó và phải xác định con đường đi của ngành chăn nuôi, thủy sản là tăng cường chế biến và kết nối thị trường. Đã đáp ứng đủ trong nước thì cần kết nối thị trường tiềm năng hướng đến xuất khẩu.

Chủ động liên kết xuất khẩu

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh hội nhập, thì việc phát triển xuất khẩu nói chung và xuất khẩu chăn nuôi nói riêng là một tiến trình không thể đảo ngược. Do vậy, việc chủ động liên kết xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi từ Việt Nam vào các thị trường sẽ mở ra hướng phát triển mới cho ngành chăn nuôi Việt Nam trong thời gian tới.

Để khơi thông thị trường, thúc đẩy xuất khẩu, ông Đào Quang Vinh - Giám đốc Công ty Công nghệ thực phẩm Minh Anh (Hà Nội) chia sẻ, việc liên kết theo chuỗi giá trị rất quan trọng, cần đề cao vai trò của DN đầu tàu trong chuỗi, có cơ chế hỗ trợ DN, hợp tác xã trong chuỗi, tuyên truyền cho bà con nông dân về vai trò của chuỗi. Đồng thời, đề xuất xây dựng Hiệp hội Sản xuất thịt lợn an toàn, trong đó, sẽ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát việc thực thi các khâu sản xuất trong chuỗi, củng cố niềm tin của người tiêu dùng.

Ông Vũ Trọng Nghĩa - Giám đốc CTCP Đầu tư và Thương mại Biển Đông nhấn mạnh, sản phẩm thịt lợn Việt Nam còn “rộng cửa” ở nhiều thị trường, thậm chí là các thị trường khó tính như Hàn Quốc, Nhật Bản. Tuy nhiên, để xuất khẩu thịt lợn sang các thị trường này, DN Việt Nam cần quan tâm và đầu tư thích đáng về vấn đề công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Một số ý kiến lại cho rằng, khác với xuất khẩu sản phẩm thông thường, xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi sẽ chịu rất nhiều hàng rào kiểm dịch động thực vật và thú y khiến cho từng DN, thậm chí ngành chăn nuôi cũng không thể đơn phương giải quyết được.

Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Cục Chế biến và Phát triển thị trường Nông sản (Bộ NN&PTNT), giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 8/2018 ước đạt 46 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2018 ước đạt 355 triệu USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2017. Theo đánh giá của các nhà nhập khẩu, Việt Nam có rất nhiều sản phẩm chủ lực có thể mở rộng xuất khẩu điển hình như: Thịt heo sữa đông lạnh, trứng vịt muối, mật ong…

Thông tin về chuyến làm việc của Bộ NN&PTNT tại Malaysia nhằm khảo sát nắm bắt thị trường và tháo gỡ những rào cản xuất nhập khẩu hàng nông sản Việt Nam tại thị trường mới đây cho thấy, các DN nước này đã thể hiện sự quan tâm đến một số mặt hàng của Việt Nam như thịt bò, sữa, các sản phẩm từ sữa, thức ăn chăn nuôi.

Hiện tại, về mặt hàng sữa, các DN Malaysia mới đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu thị trường nội địa, mặt hàng thịt bò mới được 23%. Rõ ràng, Việt Nam có nhiều cơ hội để xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi sang quốc gia này cũng như nhiều nước khác nếu đáp ứng được yêu cầu về an toàn thực phẩm và giá cả cạnh tranh.

Hiện, Bộ NN&PTNT đã và đang đàm phán về xuất khẩu thịt bò, sữa vào Malaysia; thịt heo, trứng vào Singapore; thịt heo, sữa, thủy sản vào Trung Quốc; hay mở rộng thị trường xuất khẩu thịt gà vào Nhật Bản…

Đồng thời, Bộ sẽ ký thỏa thuận với Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) để Tổ chức này cử chuyên gia sang giúp ngành thú y Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu, xây dựng chiến lược để Việt Nam sớm trở thành quốc gia an toàn thực phẩm. Những vùng nuôi sạch bệnh sẽ là cơ sở để ngành nông nghiệp đàm phán với các nước để mở rộng thị trường cho xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi Việt Nam.

Hà Sơn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530