Châu Á đang phát triển đã sẵn sàng cho CMCN 4.0?

10:25 | 29/02/2020

Thời báo Ngân hàng trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Shixin Chen, Phó Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) về nhu cầu chuẩn bị tương lai chắc chắn cho lực lượng lao động tại khu vực châu Á đang phát triển trong bối cảnh cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0.

Sự chuyển đổi mạnh mẽ

Ông Shixin Chen

Các công nghệ thông minh như trí tuệ nhân tạo hứa hẹn phá vỡ “mô hình tăng trưởng châu Á” tồn tại từ lâu và vốn là động lực cho CMCN ở châu Á đang phát triển. Khu vực này phải chuẩn bị lực lượng lao động của mình từ bây giờ cho công cuộc tự động hóa và những công nghệ khác mà có thể thay thế việc làm của con người – đặc biệt là những nhiệm vụ giản đơn thường nhật trong chuỗi sản xuất toàn cầu – cũng như đầu tư cho những công nghệ cập nhật hàng đầu trong kỷ nguyên mới.

Cần nhanh chóng sửa đổi chính sách cho phù hợp nếu các quốc gia muốn tận dụng cơ hội từ cuộc CMCN mới này – được biết đến rộng rãi là cách mạng “Công nghiệp 4.0”. Chính phủ cần ưu tiên những chương trình phát triển kỹ năng và tập trung vào kỹ năng mềm, năng lực thành thạo máy tính, và đào tạo thực hành tại tất cả các cấp của hệ thống giáo dục để chuẩn bị nguồn nhân lực cho cuộc CMCN 4.0. 

Cho tới nay, châu Á đang phát triển đã được hưởng lợi rất lớn từ mô hình “đàn ngỗng bay” trong phát triển công nghiệp nối tiếp. Ban đầu, Nhật Bản là “con ngỗng đầu đàn” trong việc nâng cấp từ các ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều lao động sang các ngành công nghệ cao. Sau khi Nhật Bản chuyển đổi sang các ngành công nghiệp tiên tiến, những hoạt động sản xuất đòi hỏi nhiều lao động đã được phân bổ sang các nước đang phát triển (ví dụ như Ấn Độ, Bangladesh và Việt Nam). Việc chuyển hoạt động ra nước ngoài này đã tạo ra việc làm ở những quốc gia đang phát triển. Nhưng cách tiếp cận “chuyển tiếp trong đàn” giờ đây có thể không còn hiệu quả. Tự động hóa sẽ làm giảm chi phí sản xuất, khiến việc chuyển hoạt động ra nước ngoài theo cách truyền thống không còn cần thiết trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ví dụ, một nghiên cứu gần đây của ADB cho thấy chi phí lao động để sản xuất một áo sơ mi vải bông tại Hoa Kỳ – trước đây là khoảng 7 USD so với chỉ 0,5 USD ở Ấn Độ hoặc 0,22 USD tại Bangladesh – sẽ giảm xuống còn khoảng 0,4 USD tại Hoa Kỳ và châu Âu nếu sử dụng rô-bốt. Điều này sẽ khuyến khích việc đưa hoạt động sản xuất ở nước ngoài về lại chính quốc khi các nền kinh tế phát triển thay thế lao động của con người bằng máy móc trong những nhiệm vụ đơn giản thường nhật. Ví dụ, Việt Nam có thể mất tới 26% số việc làm do quá trình “đưa hoạt động sản xuất về lại chính quốc” này.

Ngay cả tại các nền kinh tế châu Á đang phát triển, máy móc tự động đã bắt đầu thay thế lao động của con người. Ví dụ, một báo cáo gần đây của chính phủ cho thấy rằng tổng số lao động trong ngành dệt may của Bangladesh đã giảm từ 4,4 triệu trong năm 2013 xuống còn 3,6 triệu trong năm 2017, với nguyên nhân chính được cho là do tự động hóa.

Tại công ty Esquire Knit Composite ở vùng ngoại ô phía bắc của Dhaka, Bangladesh, những máy móc tự động hóa hoàn toàn từ Italia đang được sử dụng cho công đoạn cắt, còn máy móc bán tự động từ Nhật Bản được sử dụng cho công đoạn may và hoàn thiện. Hiện chỉ còn công đoạn là và gập được thực hiện bằng tay, chiếm 30% tổng lao động trong nhà máy. Ngay cả điều này cũng sẽ sớm thay đổi, khi các máy là và gập tự động gần đây cũng đã xuất hiện trong một số nhà máy.  

Xây dựng lực lượng lao động thích ứng

Để chuẩn bị tương lai chắc chắn cho lực lượng lao động, cần thiết phải hiện đại hóa hệ thống phát triển kỹ năng của khu vực. Trên khía cạnh này, bốn lĩnh vực sau cần được nhanh chóng đáp ứng.

Thứ nhất, các nhà quản lý cần xây dựng một lực lượng lao động có thể thích ứng với các nhu cầu thay đổi của công nghệ trong thời đại CMCN 4.0. Các kỹ năng nền tảng và kỹ năng nghề nghiệp, cũng như năng lực học tập không ngừng, là những yêu cầu then chốt cho thế hệ người lao động mới. Ít nhất một nửa số lao động hiện thời ở châu Á cần trang bị những kỹ năng mới thiết yếu hoặc cải thiện kỹ năng, theo nhận định của Diễn đàn Kinh tế thế giới. Và khoảng một nửa trong số các hoạt động đào tạo này phải dựa vào những đơn vị đào tạo nhà nước và tư nhân ở bên ngoài.

Thứ hai, chúng ta cần tăng cường năng lực kỹ thuật số. Philippines đã đưa ra khung chương trình giáo dục kỹ năng thành thạo máy tính quốc gia cho học sinh ở bậc tiểu học và trung học, với mục đích tạo ra các công dân kỹ thuật số của thế kỷ XXI, những người có thể sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và các công cụ kỹ thuật số một cách tự tin, có trách nhiệm và có đạo đức.

Thứ ba, khu vực này cần phải xa rời cách thức học thuộc lòng, thay vào đó chú trọng vào tính sáng tạo, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề, cũng như những kỹ năng mềm như giao tiếp. 

Cuối cùng, khu vực cần đáp ứng những cơ hội mới xuất hiện bằng cách phát triển các kỹ năng liên quan tới ngành nghề. Những xu thế hàng đầu trong thị trường việc làm bao gồm các kỹ năng mới như kỹ sư học máy, chuyên gia phân tích phát triển ứng dụng, lập trình viên xử lý dữ liệu (back-end), và các nhà khoa học dữ liệu. Mặc dù chỉ có rất ít cơ sở đào tạo tại châu Á đang phát triển đã sẵn sàng để chuẩn bị người lao động trong những lĩnh vực mới này, song một số đơn vị đã bắt đầu tìm hiểu các chương trình để thực hiện việc đào tạo này.

Đơn cử, Sri Lanka đang thành lập các khoa mới về công nghệ tại 11 trường đại học công lập. Các trung tâm sáng tạo và hợp tác với doanh nghiệp đã được thành lập tại những trường đại học này để tạo ra một thế hệ các chuyên gia mới – những người được trang bị năng lực để sử dụng các công nghệ của CMCN 4.0.

Trong khi đó, tại Bangladesh, 640 trung tâm đào tạo công nghệ thông tin – truyền thông (ICT) tại các trường trung học trên khắp cả nước đã bắt đầu đi vào hoạt động trong năm 2019 như một bước thí điểm cho việc giáo dục kỹ năng thành thạo máy tính. Cộng hòa Kyrgyzstan và Armenia đang lên kế hoạch rõ ràng để tăng cường giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, còn gọi là STEM. Những sáng kiến này cần được ưu tiên và mở rộng. Các quốc gia có thể học hỏi từ kinh nghiệm này để xây dựng những hệ thống phát triển kỹ năng hiệu quả, dựa trên bối cảnh và các cấu trúc thể chế riêng của họ. 

Khi cuộc CMCN mới này diễn ra, các hệ thống phát triển kỹ năng ở châu Á đang phát triển cần sự chuyển đổi mạnh mẽ. Thất bại trong hành động ngay hôm nay sẽ mang lại những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai. Bởi khả năng tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng của khu vực châu Á đang phát triển phụ thuộc vào điều này.

Shixin Chen

Nguồn:

Tags: CMCN 4.0
Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530