Chế biến sâu để thêm cơ hội ở thị trường EU

07:00 | 29/06/2020

Xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô, khiến cho các mặt hàng nông sản của Việt Nam mất giá

Triển vọng mới

Việc Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), mở ra triển vọng mới cho nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam tại thị trường đầy tiềm năng như EU. Với việc thuế xuất khẩu từ 5 đến 20% sẽ được giảm về 0%, một số nông sản Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh rất lớn trên thị trường này. Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên các nông sản như, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, rau củ quả... đang đứng trước nhiều cơ hội tại thị trường EU. Trong đó, mặt hàng cà phê có những lợi thế hơn cả, bởi nhu cầu của thị trường này là rất lớn.

Đến nay, các sản phẩm cà phê của Việt Nam đã xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 14,2% thị phần xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu, đứng thứ 2, chỉ sau nhà vô địch là Brazil. Thời gian gần đây, với các hiệp định thương mại tự do đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác, càng mở ra cho ngành hàng cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới... Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa) cho thấy, gần đây việc xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp (DN) trong nước đang gặp những khó khăn so với thời gian trước, kim ngạch xuất khẩu liên tục giảm. Nguyên nhân giá trị xuất khẩu cà phê sụt giảm do thị trường cà phê toàn cầu đang dư thừa nguồn cung... Bởi vậy, với các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là giữa Việt Nam và EU, nhiều người đang kỳ vọng không những giúp xuất khẩu cà phê thoát khỏi khó khăn mà còn khởi sắc hơn.

Thực tế, theo cam kết khi EVFTA có hiệu lực, khoảng 93% dòng thuế của các sản phẩm cà phê sẽ về mức 0%. Cùng với các mặt hàng nông sản khác, cà phê đang có nhiều lợi thế lớn, khi xuất khẩu sang Liên minh châu Âu... Lâu nay EU vốn là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Nhu cầu sử dụng cà phê cũng như các sản phẩm nông sản khác của thị trường này là tương đối lớn. Trong khi đó, Việt Nam với vị thế là á quân của xuất khẩu cà phê trên thế giới, dự báo tình hình sẽ còn khả quan hơn khi EVFTA có hiệu lực. Cụ thể, các chuyên gia kinh tế dự báo, EVFTA sẽ giúp tăng giá trị xuất khẩu cà phê lên mức 5 - 6 tỷ USD trong 10 đến 15 năm tới.

Cần tăng cường chế biến sâu để nâng cao giá trị cà phê Việt

Tuy có rất nhiều triển vọng, song thách thức của mặt hàng cà phê Việt tại thị trường EU cũng không hề nhỏ. EU luôn được biết đến là một thị trường tiềm năng nhưng rất khó tính. Trong khi đó, giá trị cà phê xuất khẩu vẫn thấp, bởi chủ yếu là xuất thô. Hiện, có đến 90% số lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam, đang dưới dạng thô. Đơn cử, như tại Đắk Lắk, mặc dù là “cứ điểm” xuất khẩu cà phê của cả nước. Song,  các sản phẩm vẫn chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng thô. Trong khi, tỷ lệ cà phê chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao hiện mới chỉ chiếm tỷ lệ ít, trong tổng sản lượng cà phê xuất khẩu. Trên thị trường cà phê nhân xô vào khoảng 30 đến 35 triệu đồng/tấn, tuy nhiên, nếu đầu tư chế biến sâu thì giá trị xuất khẩu có thể gấp tới 2 - 3 lần.

Chế biến sâu để gia tăng giá trị

Việc xuất khẩu chủ yếu vẫn là cà phê ở dạng thô, đang khiến cho mặt hàng nông sản này của Việt Nam mất giá không chỉ tại thị trường EU mà còn ở nhiều nơi khác. Bởi vậy, nâng cao giá trị, khẳng định vị thế của cà phê bằng cách tăng cường chế biến sâu đang là một yêu cầu cấp thiết. Bộ Nông nghiệp đã có Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia “Cà phê Việt Nam chất lượng cao”, với định hướng mang tầm chiến lược là xây dựng ngành cà phê Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững, có tính cạnh tranh cao với các sản phẩm đa dạng, có chất lượng, mang lại giá trị gia tăng cao, nâng cao thu nhập cho người nông dân và DN...

Để nắm bắt được những cơ hội từ EVFTA mang lại, hiện các địa phương trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên cũng như cả nước, đang tích cực triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ DN xuất khẩu cà phê. Theo ông Lê Như Nhất - Giám đốc Sở Công thương Kon Tum, lâu nay cà phê Kon Tum nói riêng, của Tây Nguyên nói chung còn đang xuất khẩu ở dạng thô là chủ yếu. Bởi vậy, thời gian tới chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng để tìm hiểu thông tin cụ thể yêu cầu của từng thị trường, hỗ trợ DN đáp ứng tiêu chuẩn từng thị trường cụ thể. Từ đó, có cơ sở điều chỉnh quy trình sản xuất, công nghệ cho phù hợp với nhu cầu sử dụng... Trên thực tế, để xuất khẩu cà phê được hưởng thuế 0% tại EU thì các DN trong nước buộc phải đầu tư cho chế biến sâu. Bởi, thị trường này ưa chuộng các sản phẩm đã qua chế biến. Chưa hết, việc đầu tư cho chế biến sâu sẽ mang lại lợi thế lớn, giúp các sản phẩm cà phê Việt Nam giảm áp lực phụ thuộc vào thị trường cà phê thế giới.

Ở khu vực Đông Nam Á, không chỉ riêng Việt Nam một số quốc gia khác, như Indonesia cũng đang tăng cường chế biến sâu cà phê xuất khẩu. Đến nay, “đối thủ” trong xuất khẩu cà phê của Việt Nam này đã làm khá tốt với khoảng 50% sản phẩm cà phê xuất khẩu được chế biến sâu. Với những tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường EU, đang được kỳ vọng sẽ là động lực để DN trong nước đầu tư công nghệ, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng cho sản phẩm. Để được hưởng lợi từ thuế quan, bên cạnh chính quyền các địa phương, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam cũng đang khuyến khích DN tiếp tục đầu tư chiều sâu để nâng cao giá trị.

Theo đại diện Công ty cổ phần Đầu tư, tư vấn và phát triển cà phê An Thái (Đắk Lắk), hiện công ty đang tập trung phát triển các mặt hàng nông sản chế biến sâu. Trong đó, cà phê là mặt hàng chủ đạo với các sản phẩm cà phê nhân, rang xay và hòa tan. Số lượng, chủng loại của cà phê hướng đến nhiều đối tượng khách hàng khác nhau... Để thành công trên thị trường, bên cạnh việc tăng cường chế biến sâu, các DN cũng nên quan tâm đến giá thành, nhãn mác bao bì sản phẩm, đặc biệt là vấn đề truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, để đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường EU vốn không hề dễ tính...

Bài và ảnh Nghi Lộc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.070 23.280 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.100 23.280 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.103 23.283 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.095 23.265 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.094 23..304 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.930
50.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.930
50.330
Vàng SJC 5c
49.930
50.350
Vàng nhẫn 9999
49.550
50.080
Vàng nữ trang 9999
49.130
49.880