Chỉ số giá bán nhà sản xuất của Trung Quốc giảm, trong khi giá tiêu dùng vẫn tăng cao

11:04 | 09/01/2020

Chỉ số giá bán nhà sản xuất của Trung Quốc đã giảm trong tháng 12, cho thấy dấu hiệu phục hồi nhẹ của hoạt động sản xuất, đồng thời đưa ra bằng chứng về việc các biện pháp kích thích kinh tế của Bắc Kinh có thể đã giúp ổn định nền kinh tế, Reuters vừa cho biết.

chi so gia ban nha san xuat cua trung quoc giam trong khi gia tieu dung van tang cao
Trong một cửa hàng tạp hóa tại Bắc Kinh, Trung Quốc - Ảnh: REUTERS/Jason Lee

Theo dữ liệu của Tổng cục Thống kê Trung Quốc (NBS) vừa công bố hôm thứ Năm, chỉ số giá bán nhà sản xuất (PPI) - một thước đo về hoạt động của doanh nghiệp - đã giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước.

Mức giảm này là lớn hơn so với dự báo của các nhà phân tích, trước đó đưa ra ở mức giảm 0,4%. Tháng 11/2019, chỉ số này đã giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tốc độ giảm giá bán nhà sản xuất chậm đi được cho là phù hợp với diễn biến dữ liệu liên quan được thu thập trong một cuộc khảo sát gần đây. Tình trạng giảm phát này một phần được hỗ trợ bởi sự phục hồi của các ngành công nghiệp chế biến dầu mỏ, than và nhiên liệu khác, NBS cho biết trong bản thông cáo công bố dữ liệu.

Trong cả năm 2019, PPI đã giảm 0,3% so với năm 2018, trong khi năm trước chỉ số này ở mức tăng 3,5%.

Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Trung Quốc trong tháng 12 vấn giữ nguyên mức tăng như tháng 11, ở mức 4,5% so với cùng kỳ năm trước - mức cao nhất trong vòng 8 năm trở lại đây, mà nguyên nhân chủ yếu vẫn do sự tăng vọt của giá thịt lợn khi cơn sốt dịch tả lợn châu Phi kéo giảm đàn lợn nước này.

Tuy nhiên, lạm phát cơ bản - không bao gồm giá lương thực và năng lượng - vẫn tăng ở mức khiêm tốn.

“Lạm phát của Trung Quốc đang trở nên ít phụ thuộc hơn vào chính sách nới lỏng. Điều này là do giá thịt lợn là động lực chính đẩy lạm phát CPI cao hơn trong những tháng gần đây, và vì vậy mức tăng lạm phát hàng năm như trong tương quan số liệu trên chỉ là tạm thời”, các nhà kinh tế tại Goldman Sachs bình luận về dữ liệu vừa công bố.

“Theo đó, các nhà hoạch định chính sách có thể đã ‘dò đá qua sông’ trong quá trình hoạch định chính sách”.

Lạm phát cơ bản tháng 12 của Trung Quốc tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, cùng tốc độ với tháng trước. Trong cả năm, CPI Trung Quốc tăng 2,9%, trong khi mục tiêu của Bắc Kinh là tăng khoảng 3% trong năm 2019.

M.Hồng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250