Chính sách tài khóa dường như đã chuyển sang vị thế trung lập hơn

15:17 | 16/04/2021

Trong điều kiện tác động của khủng hoảng đến doanh nghiệp còn kéo dài, khu vực tài chính cần được theo dõi chặt chẽ. Đây là một khuyến nghị đưa ra trong bản tin Cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 4/2021 của Ngân hàng Thế giới.

Trong bản tin cập nhật này, WB ghi nhận Việt Nam tăng trưởng 4,5% trong quý I/2021 (so cùng kỳ năm trước), là kết quả mạnh mẽ, mặc dù phục hồi giữa các ngành còn chưa đồng đều.

Đặc biệt, WB đưa ra một phát hiện đáng chú ý là chính sách tài khóa dường như đã chuyển sang vị thế trung lập hơn khi nền kinh tế đã và đang phục hồi và lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu đại dịch COVID-19, cân đối ngân sách đạt bội thu nhờ khu vực kinh tế trong nước tiếp tục phục hồi và nhập khẩu hàng hóa tăng vững chắc.

chinh sach tai khoa duong nhu da chuyen sang vi the trung lap hon
Ảnh minh họa

Trong quý I/2021, Chính phủ thu ngân sách 403,7 ngàn tỷ đồng (tăng 3,2 % so cùng kỳ năm trước) trong khi tổng chi giảm 0,4% (so cùng kỳ năm trước) xuống còn 341,9 ngàn tỷ đồng, dẫn đến bội thu ngân sách trên 60 ngàn tỷ đồng, cao hơn 29% so với cách đây một năm. Thu ngân sách cao phản ánh khu vực kinh tế trong nước trở nên mạnh hơn và nhập khẩu tăng trưởng ổn định, với thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 9,7% (so cùng kỳ năm trước). Giải ngân vốn đầu tư công đảm bảo tiến độ, với tỷ lệ giải ngân khoảng 13%, tương đương quý I/2020.

Đến cuối tháng 3/2021, Kho bạc Nhà nước huy động được tổng cộng 39,2 ngàn tỷ đồng, bằng 39% kế hoạch quý I/2021. Trái phiếu phát hành chủ yếu có kỳ hạn 10 và 15 năm. Chi phí vay nợ tăng nhẹ, với lợi suất trái phiếu kho bạc 10 năm vào ngày 25/03 ở mức 2,27%, nghĩa là cao hơn 10 điểm cơ bản so với tháng 2.

“Các cơ quan chức năng dường như đã chuyển sang chính sách tài khóa trung lập hơn khi nền kinh tế đã và đang phục hồi”, WB nhận định.

Trong bản tin này, phân tích tình hình kinh tế Việt Nam, WB lưu ý quá trình phục hồi của nền kinh tế Việt Nam diễn ra mạnh mẽ nhưng còn chưa đồng đều, khi một số lĩnh vực dịch vụ vẫn bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhu cầu trong nước chưa phục hồi hoàn toàn sau cú sốc COVID-19.

Trong bối cảnh phục hồi chưa đồng đều, theo WB, mặc dù chuyển sang chính sách tài khóa trung lập hơn là chính sách đúng đắn khi nền kinh tế phục hồi, nhưng quá trình phục hồi có thể gặp phải những cú sốc mới hoặc khó khăn kéo dài ở một số lĩnh vực của nền kinh tế.

“Các cấp có thẩm quyền nên cân nhắc tiếp tục các biện pháp tài khóa và tiền tệ nếu khủng hoảng vẫn tiếp diễn, và nền kinh tế không phục hồi nhanh như dự kiến”, WB khuyến nghị.

Chuyên gia của WB cũng đưa ra lưu ý: “Các cấp có thẩm quyền đang cân nhắc gói gia hạn thời hạn nộp thuế, một chính sách có thể hỗ trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp. Tiếp tục hỗ trợ cho các cá nhân và hộ gia đình vẫn đang chịu ảnh hưởng của cú sốc cũng là cách để đẩy mạnh nhu cầu từ khu vực tư nhân. Trong điều kiện tác động của khủng hoảng đến doanh nghiệp còn kéo dài, khu vực tài chính cần được theo dõi chặt chẽ”.

Một điểm đáng lưu ý nữa của kinh tế Việt Nam được WB nhắc đến đó là các lĩnh vực liên quan đến du lịch vẫn suy giảm nặng nề khi dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Các hoạt động đi lại ở hầu hết các đầu mối giao thông công cộng và nhà hàng đã phục hồi, nhưng chưa đạt được mức như trước đại dịch “thể hiện vết sẹo lâu dài do khủng hoảng gây ra cho ngành du lịch”.

WB khuyến nghị, trong thời gian tới, vấn đề công bằng cần được quan tâm đặc biệt trong quá trình hồi phục kinh tế của Việt Nam và cần có thêm biện pháp chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động ở những lĩnh vực như du lịch, vì họ có thể bị bỏ lại phía sau trong quá trình khôi phục kinh tế sau cú sốc COVID-19.

Linh Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550