Chính sách tài khóa: Hiệu quả nhưng còn một số hạn chế

10:22 | 02/12/2022

Chính sách tài khóa thời kỳ đại dịch Covid-19, "bão giá" và phục hồi kinh tế được cho là đem lại hiệu quả thiết thực, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần tháo gỡ...

chinh sach tai khoa hieu qua nhung con mot so han che Phối hợp nhịp nhàng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

Kịp thời, hiệu quả

Kể từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện, hàng loạt chính sách tài khóa được áp dụng để hỗ trợ doanh nghiệp. Bộ Tài chính đã chủ động nghiên cứu, đề xuất, trình cấp có thẩm quyền cũng như ban hành theo thẩm quyền các giải pháp về gia hạn các khoản thuế (giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, tiêu thụ đặc biệt) và tiền thuê đất; miễn, giảm các khoản thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất để hỗ trợ doanh nghiệp chịu tác động.

Trong năm 2020, tổng quy mô các giải pháp hỗ trợ 129 nghìn tỷ đồng, trong đó, số tiền thuế và tiền thuê đất được gia hạn 97,5 nghìn tỷ đồng; số tiền thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất được miễn, giảm hơn 31,5 nghìn tỷ đồng.

Năm 2021, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, các giải pháp hỗ trợ tiếp tục được triển khai ở mức cao hơn cả về nội dung và giá trị với tổng quy mô 145 nghìn tỷ đồng, trong đó, số tiền thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất được miễn, giảm 25 nghìn tỷ đồng; số tiền thuế và tiền thuê đất được gia hạn 120 nghìn tỷ đồng.

chinh sach tai khoa hieu qua nhung con mot so han che
Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao các chính sách tài khoá và giải pháp hỗ trợ phục hồi

Năm 2022, Bộ Tài chính tiếp tục trình các cấp có thẩm quyền và ban hành theo thẩm quyền nhiều chính sách, như: giảm 50% lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước, dự kiến doanh nghiệp, người dân sẽ được giảm nghĩa vụ này khoảng 7,3 nghìn tỷ đồng; điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với nhiều nhóm mặt hàng để thúc đẩy hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp với số tiền 1,9 nghìn tỷ đồng; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí với số tiền được giảm 900 tỷ đồng.

Ngoài ra, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước; giảm tiền thuê đất phải nộp của năm 2022; giảm từ 50%-70% mức thuế bảo vệ môi trường đối với các mặt hàng xăng, dầu, mỡ nhờn, số tiền giảm thu khoảng 24 nghìn tỷ đồng...

Các giải pháp nêu trên trong năm đã hỗ trợ cho doanh nghiệp với giá trị tiền thuế, tiền thuê đất, phí, lệ phí 225,5 nghìn tỷ đồng. Đây là chương trình hỗ trợ tương đối toàn diện giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh tiết giảm chi phí, có thêm nguồn lực duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cú hích cho phát triển kinh tế.

Đặc biệt trước tình hình giá xăng dầu thế giới tăng cao trong thời gian gần đây tác động không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp và đời sống của người dân, ảnh hưởng tới sự phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn và giảm 70% mức thuế bảo vệ môi trường đối với dầu hỏa đến hết ngày 31/12/2022. Điều chỉnh mức giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng từ 20% xuống 10% nhằm đa dang hóa nguồn cung, góp phần bình ổn thị trường trong nước.

Đặc biệt, các chính sách giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với nhiều hàng hóa, dịch vụ chịu mức thuế suất 10% và giảm thuế bảo vệ môi trường đối với các mặt hàng xăng, dầu đã có “tác dụng kép”, vừa giúp giảm giá thành hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, vừa góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội trong điều kiện sức ép lạm phát, chi phí tăng cao.

Một số hạn chế cần khắc phục

Theo TS. Phạm Mạnh Hùng (Học viện Ngân hàng), do ảnh hưởng dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam hứng chịu cú sốc kép từ phía cung do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ngưng trệ, chuỗi cung ứng gián đoạn và phía cầu do người tiêu dùng cắt giảm mạnh chi tiêu. Để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, Chính phủ đã ban hành các chính sách hướng tới việc giảm nhẹ nghĩa vụ tài chính, tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng và bảo đảm khả năng duy trì sản xuất cho doanh nghiệp.

Trong các chính sách về phục hồi và phát triển kinh tế, các biện pháp hỗ trợ thông qua công cụ tài khóa đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính phủ cùng các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nhiều chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp chính sách tài khóa được triển khai xoay quanh các cơ chế miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, tiền thuê đất, các loại phí, lệ phí, hỗ trợ lãi suất...

Tuy nhiên trong thực tiễn triển khai đã bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục. Các chính sách đa số được thiết kế và thực thi theo hướng bình quân giữa các địa phương, ngành nghề, quy mô mà ít tính đến mức độ ảnh hưởng và khả năng chống chịu. Liều lượng chính sách còn khiêm tốn, cùng với đó là số lượng đối tượng được hỗ trợ quá nhiều, nên lợi ích từ chính sách bị dàn trải.

Mức độ hữu ích của chính sách hỗ trợ có xu hướng tỷ lệ thuận với mức độ tiếp cận thông tin về chính sách. Theo đó, những doanh nghiệp tiếp cận thông tin chính sách kém thường là những doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bên cạnh đó, nhiều chính sách hỗ trợ có quy trình xét duyệt còn phức tạp, các điều kiện để được thụ hưởng chưa rõ ràng, thời gian xử lý lâu do bị ảnh hưởng bởi các quy định…

PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng để thúc đẩy các gói hỗ trợ, các cơ quan quản lý cần tiếp tục lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp; có hệ thống giám sát, đánh giá kịp thời, có hướng dẫn cụ thể cho các địa phương thực hiện. Bên cạnh đó, cần rà soát các tiêu chí, chỉnh sửa cho phù hợp; bổ sung tiêu chí mới khi nền kinh tế thế giới đối mặt nhiều thách thức. Việc hỗ trợ cần có mục tiêu, như ưu tiên với các ngành trong lĩnh vực tạo bệ đỡ cho nền kinh tế như doanh nghiệp logistics, công nghiệp hỗ trợ.

Trong khi đó, GS.TS. Phạm Hồng Chương, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, chia sẻ: Tại nhiều nước trên thế giới, “gánh nặng” Covid-19 được chính phủ san sẻ rất nhiều, họ chấp nhận tăng nợ công để hỗ trợ doanh nghiệp nên khi đại dịch qua đi, doanh nghiệp đã phục hồi mạnh mẽ. Còn tại Việt Nam, nhiều khó khăn dồn đến cùng lúc khi nguồn lực doanh nghiệp có hạn. Cần phải tháo gỡ nguồn vốn cho doanh nghiệp, cùng với đó cần phải có nghiên cứu đâu là trách nhiệm của doanh nghiệp, trách nhiệm của cơ quan nhà nước và môi trường đầu tư... nhằm khôi phục niềm tin cộng đồng, xã hội đối với doanh nghiệp. Có nhiều giải pháp về vốn, nhưng tại Việt Nam, phần lớn doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào vốn ngân hàng. Vì vậy, đây có thể xem là vấn đề cấp bách, cần sớm giải quyết.

Ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao các chính sách tài khóa và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi. Để tiếp tục tạo điều kiện phục hồi kinh tế, xã hội những tháng cuối năm 2022 và năm 2023, cần 8 nhóm giải pháp lớn: Tập trung hoàn thiện khung khổ pháp lý về đầu tư và kinh doanh; tiếp tục giảm chi phí cho doanh nghiệp (giảm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng dầu, giảm chi phí tiền điện - một trong những chi phí đầu vào quan trọng của doanh nghiệp); có biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận khoản vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp. Chính phủ cần có giải pháp hỗ trợ kịp thời một số ngành đang phục hồi mạnh như ngành du lịch, dịch vụ, xuất khẩu, hoạt động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đang thiếu lao động.

Bài và ảnh Nguyên Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.430 23.800 24.662 26.042 27.702 28.883 175,33 185,62
BIDV 23.490 23.790 24.859 26.062 27.830 28.912 173.60 182.70
VietinBank 23.400 23.800 24.488 26.123 28.168 29.178 176,97 184,92
Agribank 23.440 23.800 24.910 26.057 27.948 28.857 177,53 185,26
Eximbank 23.410 23.750 24.970 25.647 28.029 28.789 177,36 182,17
ACB 23.400 23.800 25.009 25.606 28.028 28.765 177,51 181,93
Sacombank 23.470 23.870 25.080 25.687 28.247 28.862 177,80 183,35
Techcombank 23.430 23.790 24.760 26.090 27.766 29.067 173,38 185,81
LienVietPostBank 23.430 24.100 24.880 26.235 28.154 29.108 176,00 187,77
DongA Bank 23.480 23.790 24.980 25.620 28.050 28.760 176,5 182,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.400
Vàng SJC 5c
66.600
67.420
Vàng nhẫn 9999
54.000
54.950
Vàng nữ trang 9999
53.750
54.550