Chính sách tín dụng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ở các vùng nghèo

17:00 | 23/09/2019

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng chính sách nói riêng đã đạt được những kết quả tích cực và trở thành một trong những trụ cột của hệ thống chính sách giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.

Đó là khẳng định của Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú, thành viên Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về vai trò, hiệu quả tín dụng chính sách trong thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững do Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia tổ chức sáng 23/9 tại Trụ sở Chính phủ.

Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, các chương trình tín dụng chính sách đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015 từ 14,2% xuống còn 4,25%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều cũng đã giảm từ 9,88% vào năm 2015 xuống còn 5,23% năm 2018. Từ năm 2016 đến nay tỷ lệ giảm nghèo luôn đạt và vượt chỉ tiêu Quốc hội giao hàng năm, cũng như mục tiêu tại chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Cụ thể tỷ lệ giảm nghèo bình quân cả nước đạt trên 1,5%/năm, riêng huyện nghèo thì bình quân giảm ở mức rất cao là 5,5%/năm.

Đối với mục tiêu thực hiện xây dựng nông thôn mới, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã trở thành nguồn lực quan trọng, chiếm trên 50% tổng nguồn lực của các chương trình này, đạt 1,18 triệu tỷ đồng. Cùng nguồn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần hoàn thành sớm các mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

Chia sẻ về các giải pháp của ngành Ngân hàng để đạt được kết quả tích cực nói trên, Phó Thống đốc Đào Minh Tú đặc biệt nhấn mạnh về vai trò của việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng theo hướng đột phá, mở rộng cả về đối tượng, hạn mức và các thủ tục vay vốn.

Thứ nhất, NHNN đã trình Chính phủ ban hành chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn với nhiều cơ chế ưu đãi phù hợp với thực tiễn nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Trong đó triển khai các chương trình chính sách đặc thù để tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng cho người dân, như chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất để tăng cường cơ giới hoá, giảm tổn thất trong nông nghiệp, cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch…

Đến ngày 31/7/2019, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn đạt gần 1,87 triệu tỷ đồng, tăng 5,11% so với cuối năm 2018 và chiếm 24,23% dư nợ tín dụng toàn quốc.

“Có thể thấy hệ thống cơ chế chính sách tín dụng đã đáp ứng cơ bản nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, tạo công ăn việc làm, từng bước nâng cao điều kiện sống, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ toàn diện ở các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Phó Thống đốc nhận định.

Thứ hai, mạng lưới các TCTD tham gia cung ứng dịch vụ ngân hàng không ngừng được mở rộng về quy mô và đa dạng về loại hình vận động. Trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã và đang phát triển mạng lưới, điểm giao dịch đến các phường xã toàn quốc; hệ thống các TCTD ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh phục vụ yêu cầu đời sống của khu vực nông thôn, vùng sâu và vùng xa.

Đối với hoạt động tín dụng chính sách, NHNN cũng đã tham mưu trình ban hành theo thẩm quyền một số chính sách tín dụng quan trọng có tác động lớn tới hệ thống chính sách giảm nghèo như chính sách tín dụng với hộ cận nghèo, chính sách tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo.

Việc ban hành các chính sách này đã tạo nên hệ thống chính sách giảm nghèo đồng bộ bao phủ đến tất cả các nhóm đối tượng thụ hưởng, từ hộ nghèo đến hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Trong đó, chính sách tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo được coi là chính sách tiên phong hỗ trợ nhóm đối tượng đã thoát nghèo, tạo điều kiện cho các hộ mới thoát nghèo được tiếp tục được vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần giảm nghèo bền vững.

Thứ tư, theo Phó Thống đốc, để hỗ trợ tạo điều kiện cho NHCSXH ổn định nguồn vốn thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách, NHNN đã triển khai một số giải pháp như kịp thời hỗ trợ nguồn vốn qua kênh tái cấp vốn, gia hạn tái cấp vốn trong điều kiện ngân sách chưa bố trí kịp thời một số chương trình tín dụng chính sách. Bên cạnh đó, ban hành các văn bản hướng dẫn các TCTD nhà nước thực hiện duy trì bắt buộc tiền gửi ổn định tại NHCSXH, khuyến khích các ngân hàng mua trái phiếu của NHCSXH được Chính phủ bảo lãnh.

Đến nay tổng các nguồn vốn nêu trên chiếm khoảng 60% tổng nguồn vốn hoạt động của NHCSXH, riêng nguồn vốn nhận tiền gửi 2% từ các TCTD nhà nước đạt 71.277 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 34,4% tổng nguồn vốn hoạt động của NHCSXH hiện nay.

Thứ năm, quán triệt Chỉ thị 40 của Ban bí thư và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 401 ngày 13/3/2016 về kế hoạch triển khai Chỉ thị 40, trong đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp và phân công cụ thể trách nhiệm của các bộ ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng cường sự chỉ đạo của các cấp chính quyền từ trung ương đến cơ sở trong việc xây dựng cơ chế chính sách và bố trí các nguồn lực cho tín dụng chính sách xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng chính sách xã hội.

Phó Thống đốc Đào Minh Tú đánh giá, đến nay các nhiệm vụ phân công tại Chỉ thị 40 và Quyết định 401 đã được các bộ ngành tích cực triển khai có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra, góp phần thúc đẩy hoạt động tín dụng chính sách xã hội phát triển tích cực.

Tin và ảnh: Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530