Cho thuê bất động sản đã qua giai đoạn khó khăn?

08:37 | 30/06/2022

Các chuyên gia bất động sản nhận định, đến nay sự khủng hoảng của bất động sản cho thuê đã có xu hướng dịu lại, khó khăn khách quan đã dần qua đi, nhưng nguồn cung bất động sản cho thuê đang thể hiện tốc độ phát triển khá chậm so với nhu cầu trong bối cảnh các hoạt động sản xuất – kinh doanh đang phục hồi mạnh mẽ sau dịch...

Số liệu thống kê cho thấy, thời gian gần đây, nhu cầu tìm kiếm bất động sản cho thuê toàn quốc đã tăng 14% so với cùng kỳ năm 2021 và tăng ở hầu hết các loại hình. Trong đó, văn phòng và nhà phố cho thuê là hai loại hình thu hút lượng quan tâm tăng cao nhất. Tại Hà Nội, lượng tìm kiếm văn phòng cho thuê tăng 89%, nhà mặt phố cho thuê tăng 97%, trong khi văn phòng cho thuê tại TP. Hồ Chí Minh cũng ghi nhận mức độ quan tâm tăng vọt 112% và nhà mặt phố cho thuê tăng 64%. Nguyên nhân khiến nhu cầu về bất động sản cho thuê tăng vọt là do các hoạt động kinh doanh, sản xuất đã phục hồi và sôi động trở lại, sau thời gian dài thực hiện nghiêm ngặt giãn cách xã hội để phòng chống đại dịch Covid-19. Nhất là ngành du lịch đã có những phục hồi rất khả quan.

cho thue bat dong san da qua giai doan kho khan

Ngược lại thời gian, trong số các phân khúc bất động sản chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tác động của dịch Covid-19, bất động sản cho thuê được cho là đứng đầu danh sách. Liên tục từ năm 2020 đến nay, thị trường bất động sản cho thuê liên tục rơi vào tình trạng ảm đạm, trầm lắng. Nhiều chủ mặt bằng chọn phương án giãn nợ, giảm giá từ 20-50% nhưng vẫn ế ẩm vắng bóng khách thuê.

Theo các chuyên gia, sự ế ẩm của loại hình kinh doanh bất động sản cho thuê xuất phát từ nguyên nhân dịch bệnh kéo dài. Nhiều tiểu thương cũng như các doanh nghiệp kinh doanh lớn bị tạm dừng hoạt động bởi giãn cách xã hội. Lượng lao động lớn bị thất nghiệp phải trả mặt bằng thuê nhà, rời đô thị về quê lánh dịch. Điều này dẫn tới hệ quả kinh doanh bất động sản cho thuê rơi vào tình trạng dư thừa nguồn cung, ế ẩm kéo dài.

Ông Trần Cao Sơn - Tổng Giám đốc CTCP xây dựng Đông Á chia sẻ, đặc biệt, đối với những chủ kinh doanh bất động sản cho thuê sử dụng đòn bẩy tài chính tức là dùng vốn vay ngân hàng thì trong bối cảnh này sẽ rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan khi phải đắn đo giữa việc giảm giá cho thuê nhà và khó khăn nợ ngân hàng trả lãi hàng tháng. Nếu không giảm giá cho thuê, khách hàng có thể bỏ cọc để cắt lỗ. Lúc này, bất động sản cho thuê xác định để trống, doanh thu từ cho thuê không có mà vẫn phải trả lãi ngân hàng đều đặn. Dù giảm tiền thuê nhà trong kinh doanh bất động sản cho thuê chỉ là giải pháp ngắn hạn nhưng nó thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Để cùng nhau vượt qua dịch Covid-19, tất cả các bên cần phải đồng lòng, chủ nhà và bên cung cấp dịch vụ cho thuê cần chấp nhận giảm giá, giãn nợ để vẫn có được một phần tiền nhà trả cho ngân hàng...

Bên cạnh phương án giảm giá, thì chủ sở hữu bất động sản cho thuê sẽ cần phải tính toán lại phương án lợi nhuận cho thuê. Ví dụ, một căn hộ cao cấp hạng A có giá bán khoảng 83 triệu đồng/m2, giá thuê trung bình vào khoảng 620.000 đồng/m2/tháng. Như vậy tỷ suất lợi nhuận trong một năm sẽ là 9%. Trong giai đoạn mùa dịch khó khăn, chủ đầu tư và chủ nhà cần tính toán lại phương án lợi nhuận kinh doanh bất động sản cho thuê để vừa đảm bảo lợi ích các bên, ông Trần Cao Sơn cho biết thêm.

Các chuyên gia bất động sản nhận định, đến nay sự khủng hoảng của bất động sản cho thuê đã có xu hướng dịu lại, khó khăn khách quan đã dần qua đi, nhưng nguồn cung bất động sản cho thuê đang thể hiện tốc độ phát triển khá chậm so với nhu cầu trong bối cảnh các hoạt động sản xuất – kinh doanh đang phục hồi mạnh mẽ sau dịch. Bằng chứng là trong tháng 6/2022, lượng tin đăng cho thuê bất động sản toàn quốc giảm 12% so với cùng kỳ năm trước và giảm ở hầu hết các loại hình bất động sản; chỉ riêng nhà mặt phố cho thuê tăng 36%, song mức tăng này khá khiêm tốn so với sự tăng trưởng nhu cầu tìm kiếm phân khúc này.

Trái ngược với phân khúc cho thuê, các sản phẩm bất động sản bán trong tháng 5 và nửa đầu tháng 6/2022 vừa qua dù có xu hướng gia tăng nguồn cung, nhưng giảm nhu cầu tìm kiếm so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, phân khúc đất nền được rao bán nhiều nhất khi tăng 30% so với cùng kỳ năm trước, phân khúc nhà riêng và nhà mặt phố cũng có lượng tin đăng bán tăng 13%. Lượng quan tâm và giao dịch mua bán loại hình đất ở miền Bắc có dấu hiệu chững lại, chỉ xuất hiện sóng nhẹ ở khu vực đường vành đai hoặc một số khu vực có dự án quy hoạch. Còn ở thị trường phía Nam, dòng tiền có dấu hiệu quay trở lại trung tâm TP. Hồ Chí Minh, phân khúc cho thuê và phân khúc phục vụ sản xuất, kinh doanh tăng trưởng tốt.

Hải Thu

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.245 23.545 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.280 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.259 23.545 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.150
53.050
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.650