Chủ động để ứng phó, giữ an toàn hoạt động

08:00 | 07/08/2020

Việc kịp thời xây dựng khuôn khổ pháp lý bằng việc ban hành ngay Thông tư 01 của NHNN đã giúp các TCTD triển khai việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với các khoản nợ gốc và lãi đến hạn, miễn giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn chưa trả được nợ, tạo điều kiện cho khách hàng cho vay mới tiếp tục ổn định sản xuất kinh doanh.

chu dong de ung pho giu an toan hoat dong Phát huy hiệu quả Thông tư 01: Cần sự đồng lòng, quyết liệt
chu dong de ung pho giu an toan hoat dong Sửa chính sách để tăng hỗ trợ cho doanh nghiệp
chu dong de ung pho giu an toan hoat dong Tiếp tục gỡ vướng cho dòng chảy vốn

Trích lập dự phòng tăng

Báo cáo tài chính bán niên của hầu hết các ngân hàng đều ghi nhận trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng, thậm chí tăng khá mạnh 6 tháng đầu năm 2020. Đơn cử như trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 6 tháng đầu năm của Kienlongbank tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước lên 79 tỷ đồng. Thậm chí tại ACB, chi phí dự phòng rủi ro 6 tháng đầu năm còn tăng gần 4,6 lần so với cùng kỳ năm trước lên 532 tỷ đồng.

Với các ngân hàng khác, chi phí dự phòng rủi ro cũng tăng hàng chục phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Chẳng hạn như MB, trong 6 tháng đầu năm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của nhà băng này tăng tới 40% so với cùng kỳ năm trước, đạt gần 3.310 tỷ đồng. Hay tại TPBank, số trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng này trong 6 tháng đầu năm cũng lên tới 765,7 tỷ đồng, tăng 49,1% so với cùng kỳ 2019. Tương tự, trích lập dự phòng rủi ro 6 tháng đầu năm của VIB cũng tăng 31,7% lên hơn 421 tỷ đồng; LienVietPostBank tăng 14% lên hơn 216 tỷ đồng; Sacombank 49,6% lên 1.565 tỷ đồng...

chu dong de ung pho giu an toan hoat dong
Thông tư 01 sửa đổi sẽ sớm được ban hành

Với khối NHTM nhà nước có chút khác biệt, ngoài Vietcombank nửa đầu năm nay có chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 21% (tương đương 4.009 tỷ đồng), còn lại chi phí dự phòng của BIDV lại giảm nhẹ 5,6% xuống mức 10.142 tỷ đồng. Lãnh đạo VietinBank cũng cho hay, chi phí dự phòng rủi ro trong 6 tháng đầu năm 2020 của nhà băng này giảm 10,7% so với cùng kỳ do nỗ lực kiểm soát chất lượng nợ và triển khai các biện pháp đồng hành, hỗ trợ khách hàng khôi phục hoạt động kinh doanh.

Thực tế, hoạt động tài chính - ngân hàng cũng như hoạt động của nền kinh tế nói chung đang gặp nhiều khó khăn, thử thách do đại dịch Covid-19. Đối với riêng hệ thống tài chính ngân hàng, giới chuyên gia cho rằng, cũng có một vài ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng tích cực, nhưng cả mặt bằng chung thì rất chậm. Trong khi dịch bệnh khiến hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ đã ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Cả hai yếu tố này chính là nguyên nhân đẩy tỷ lệ nợ xấu tăng. Việc thực hiện cơ cấu lại nợ giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo tinh thần của Thông tư 01 chỉ có tác dụng neo giữ nợ xấu của các ngân hàng trong ngắn hạn, trong khi có thể tạo áp lực đối với nợ xấu trong tương lai.

Theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống ngân hàng dự báo có thể tăng lên 4%, cao hơn so với mức 1,89% vào cuối năm 2019 bởi tăng trưởng tín dụng ở mức thấp; hoạt động của DN cũng gặp khó khăn trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng thấp.

PGS-TS. Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính) nhận thấy, mặc dù báo cáo 6 tháng đầu năm 2020 ở nhiều ngân hàng cho thấy nợ xấu, lợi nhuận cũng như các vấn đề khá ổn. Nhưng theo vị này, “nếu tính những khoản nợ đang cho vay không được chuyển nhóm hoặc những món nợ kéo dài thời hạn của các DN, cộng thêm các vấn đề khác… có lẽ lợi nhuận ngân hàng cũng không cao đến vậy. Thêm nữa, việc tạm thời không chuyển nhóm nợ khiến nợ xấu trên bảng cân đối kế toán của một số ngân hàng chưa chắc đã phản ánh đúng đắn. Rủi ro nợ xấu có thể lớn khiến các ngân hàng buộc phải có mức trích quỹ dự phòng cao là đương nhiên”.

Thực tế, việc tăng cao của quỹ trích lập dự phòng rủi ro cũng là nhu cầu tự thân của các ngân hàng để có nguồn xử lý nợ xấu trong tương lai trong bối cảnh dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp. Hiện nay, Chính phủ cũng đang có những chỉ đạo rốt ráo trong việc khoanh vùng dập dịch, nhưng rõ ràng cũng phải tính tới những trường hợp xấu hơn khi dịch có thể lây lan rộng ra toàn xã hội. Vì thế, các ngân hàng buộc phải có sự chủ động mới có thể ứng phó, có nhiều kịch bản để sẵn sàng nếu xảy ra tình huống xấu nhất vẫn có thể giữ an toàn cho hoạt động của mình.

Ngân hàng cần sự hỗ trợ

Việc kịp thời xây dựng khuôn khổ pháp lý bằng việc ban hành ngay Thông tư 01 của NHNN đã giúp các TCTD triển khai việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với các khoản nợ gốc và lãi đến hạn, miễn giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn chưa trả được nợ, tạo điều kiện cho khách hàng cho vay mới tiếp tục ổn định sản xuất kinh doanh.

Có thể khẳng định hệ thống ngân hàng đã rất chủ động và vào cuộc rất sớm để có giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng. Tuy nhiên PGS-TS. Đinh Trọng Thịnh cho rằng, dù dự thảo sửa đổi Thông tư 01 đã được công bố theo hướng mở rộng đối tượng và kéo dài thời gian hỗ trợ cho người dân, DN; nhưng rất có thể sẽ phải có sự điều chỉnh tiếp tục khi dịch có những diễn biến mới, và cũng chưa biết tới bao giờ dịch sẽ được công bố kết thúc.

“Bây giờ DN chưa thể phục hồi để có khả năng trả nợ, thời gian tới sẽ càng khó khăn hơn. NHNN nên có những biện pháp để giúp các DN kéo dài khoản cho vay trước đây để DN có thể tái cấu trúc nợ vay, giãn, hoãn thời gian trả nợ. Cơ quan quản lý cũng cần nghiên cứu, xem xét để có biện pháp như tái cấp vốn, hay có những khoản vay ưu đãi, từ đó thì ngân hàng sẽ thêm điều kiện hỗ trợ DN tái cấu trúc nợ, vượt qua khó khăn”, ông Thịnh chia sẻ.

Ở một góc độ khác, một chuyên gia tài chính cũng nhắc lại một thực tế là ngân hàng đang thừa vốn nhưng “không dám cho vay” vì có những DN không có tài sản bảo đảm, không đủ tiêu chuẩn. Trong khi đó, nhiều DN cũng chẳng dám vay vì họ không có đơn hàng, đình trệ sản xuất… Do vậy, “NHNN cần quan tâm đến chuyện đó để có những hỗ trợ phù hợp cho các NHTM, qua đó ngân hàng giúp DN có thể tiếp tục tồn tại, phục hồi sản xuất kinh doanh”, vị này cho hay.

Theo phía Cơ quan Thanh tra Giám sát ngân hàng, hiện nay dịch đang tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới, hoạt động của các DN tiếp tục bị ảnh hưởng. Vì vậy, Thống đốc NHNN đã kịp thời chỉ đạo sửa đổi, bổ sung Thông tư 01/2020/TT-NHNN cho phù hợp hơn với thực tế. Hiện các đơn vị chức năng của NHNN đang khẩn trương hoàn tất thủ tục để xin ý kiến Bộ Tài chính trình Thống đốc NHNN ban hành.

Cần phải nhấn mạnh lại một lần nữa, việc khống chế nợ xấu là bắt buộc, ngân hàng phải tính tới các bước dự phòng tốt nhất, tính toán đảm bảo thu hồi, giảm thiểu tối đa mức nợ xấu, nợ xấu sẽ không thể để bùng lên như trước đây được, ảnh hưởng tới an toàn của cả hệ thống tài chính. Đó chính là lý do NHNN đã nhiều lần lưu ý các ngân hàng không được hạ chuẩn tín dụng.

Minh Khôi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250