Chưa vội mừng với xuất siêu

09:02 | 11/10/2019

Theo số liệu mới nhất vừa được Tổng cục Hải quan cập nhật, cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2019 thặng dư tới 7,15 tỷ USD, cao hơn khá nhiều so với con số ước tính trước đó của Tổng cục Thống kê là 5,9 tỷ USD...

Xuất siêu tháng 9/2019 cao hơn dự kiến, đạt trên 1,6 tỷ USD
9 tháng, xuất siêu đạt gần 5,9 tỷ USD

Như vậy mức xuất siêu của 9 tháng năm nay đã vượt con số 6,8 tỷ USD của cả năm 2018. Kết quả này cho thấy diễn biến đáng mừng của tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá, song cũng đặt ra không ít lo ngại.

Năng lực của DN trong nước cải thiện, tạo thêm lực đẩy cho xuất khẩu hàng hoá

Thặng dư cao nhờ DN nội tự chủ hơn

Sở dĩ cán cân thương mại trong 3 quý đầu năm thặng dư lớn như vậy là bởi trong tháng 8, lần đầu tiên Việt Nam xuất siêu lên tới 3,4 tỷ USD chỉ trong 1 tháng. Đây là tháng có mức thặng dư cao nhất từ trước đến nay của Việt Nam. Tiếp đó, tháng 9 cả nước xuất siêu 1,61 tỷ USD, cao gấp hơn 3 lần so với số ước tính của Tổng cục Thống kê.

Tuy nhiên đây không phải là diễn biến quá bất ngờ. Bởi trong năm 2018, đây cũng là 2 tháng mà cả nước đạt mức xuất siêu lớn nhất; trong khi tháng 10, tháng 11 chỉ xuất siêu nhẹ ở mức 0,77 tỷ USD và 0,15 tỷ USD, riêng tháng 12 nhập siêu quay lại ở mức 0,81 tỷ USD. Vì vậy, có thể dự báo rằng con số thặng dư thương mại 7,15 tỷ USD của 9 tháng sẽ không thay đổi quá nhiều trong 3 tháng còn lại của năm.

Nếu như đạt thặng dư thương mại ở mức hơn 7 tỷ USD cho cả năm 2019, thì một lần nữa Việt Nam đã thiết lập mức kỷ lục mới. Diễn biến này là khá bất ngờ so với những dự báo được đưa ra từ đầu năm khi kinh tế thế giới có dấu hiệu suy giảm do chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

Phân tích của Bộ Công thương, kết quả này là nhờ sự vươn lên mạnh mẽ của khối DN nội địa. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng tới 16,4%, chiếm 30,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 5%.

Đáng chú ý hơn là khác với các năm trước đây, động lực tăng trưởng của khối DN trong nước không đến từ nhóm nông sản, thủy sản mà đến từ các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp. Cụ thể, trong 9 tháng đầu năm, khi xuất khẩu nhóm nông sản, thủy sản giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước thì nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 10,3%. Xuất khẩu nhiều mặt hàng như gỗ và sản phẩm gỗ, các sản phẩm dệt may, sản phẩm chất dẻo, cao su... của khối DN trong nước đều tăng trưởng tốt.

Đại diện của Bộ Công thương phân tích, đó là nhờ năng lực sản xuất của các DN trong nước đã cải thiện và đang hình thành được các chuỗi giá trị, vì vậy giá trị gia tăng đang ngày càng được tạo ra nhiều hơn tại Việt Nam. Ngoài ra, thặng dư thương mại cao hơn nhờ nhập khẩu hàng tiêu dùng vào thời điểm cuối năm giảm xuống do sản xuất trong nước đã đáp ứng được; hoặc các DN đã chủ động nhập khẩu từ trước để tránh những tác động tiêu cực có tính chu kỳ như giá cả hàng hóa tăng…

Song vẫn còn nhiều mối lo

Mặc dù thặng dư cao là dấu hiệu tốt thể hiện sức khoẻ của nền kinh tế đang cải thiện hơn. Tuy nhiên đặt trong bối cảnh hiện nay, đây lại là vấn đề phải lưu ý, đặc biệt là với công tác điều hành.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô quý III/2019 vừa được công bố, Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) một lần nữa đã đưa ra cảnh báo, với thâm hụt thương mại lớn, cùng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở mức 2 con số và vượt xa tất cả các thị trường lớn khác, Mỹ sẽ có thêm lý do “để mắt” nhiều hơn tới Việt Nam.

Cụ thể, trong 9 tháng năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 44,9 tỷ USD, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường lớn khác như EU giảm 0,7%; Trung Quốc giảm 3,8%; trong khi thị trường ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc chỉ tăng nhẹ ở mức một con số.

Bên cạnh đó, theo TS. Phạm Sỹ Thành, chuyên gia của VEPR, việc tăng trưởng xuất khẩu sang Mỹ chưa chắc đã giúp cho DN Việt Nam hưởng lợi. Bởi thực tế cho thấy trong nhiều nhóm hàng mà Việt Nam có ưu thế như quần áo, đồ gỗ…, DN nước ngoài đang lấn sân, giành nhiều đơn hàng xuất khẩu trong vòng 1 năm qua. “DN đầu tư trực tiếp nước ngoài mới là đối tượng hưởng lợi lớn từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, bởi họ có thể dựa trên thế mạnh chuỗi sản xuất cũng như công nghệ để tăng cường xuất khẩu sang Mỹ”, ông Thành khẳng định.

Còn theo chuyên gia kinh tế, TS. Võ Trí Thành, nhu cầu nhập khẩu có xu hướng giảm lại là vấn đề đáng quan ngại hơn cả. Bởi đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì trong quá trình đầu tư phát triển sẽ cần nhiều máy móc, thiết bị để xây dựng nhà máy. Do đó, việc nhập khẩu giảm tốc có thể cho thấy một góc nhìn khác là nhu cầu đầu tư sản xuất của xã hội giảm đi, trong khi việc cải thiện năng lực của DN trong nước chưa thể diễn ra trong thời gian ngắn như vậy.

Trong lúc tác động của diễn biến thương mại thế giới còn chưa rõ ràng đối với Việt Nam, các chuyên gia khuyến nghị công tác điều hành cần linh hoạt hơn, cần có sự “chia lửa” chính sách, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các DN xuất khẩu.

Chẳng hạn, thay đổi thuế suất đối với DN xuất khẩu cũng như DN nhập khẩu phục vụ xuất khẩu để tạo lợi thế mà không cần can thiệp nhiều đến tỷ giá. Ngoài ra, hiện nay tỷ lệ tận dụng FTA còn thấp, bình quân chỉ đạt khoảng 40% lợi thế từ thuế suất. Đó là do những bất cập trong việc cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa, mà cơ quan quản lý và DN có thể lưu ý để cải thiện trong thời gian tới.

Đoàn Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.380 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.205 23.385 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.184 23.374 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.215 23.365 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.200 23.360 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.180 23.350 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.190 23.400 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.190 23.390 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.200 23.370 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.230 23.360 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050