Chứng khoán có duy trì được đỉnh cao mới?

08:08 | 01/11/2021

Động lực kích thích lớn nhất cho thị trường chứng khoán có lẽ đến từ kỳ vọng vào gói hỗ trợ mới mà Chính phủ đang dự định triển khai từ đây đến năm sau với quy mô có thể lên đến 20.000 tỷ đồng. Và dự tính sẽ xây dựng gói hỗ trợ lãi suất khoảng 3.000 tỷ đồng, tương ứng dư nợ lên tới 100.000 tỷ đồng để hỗ trợ các doanh nghiệp kiệt quệ bởi đại dịch Covid-19.

Thị trường chứng khoán vẫn duy trì được đà tăng trưởng mạnh trong tháng vừa qua, thậm chí VN-Index đã vượt qua cột mốc 1.400 điểm, thiết lập kỷ lục mới 1.444,27 điểm trong phiên giao dịch cuối cùng của tháng 10/2021. Tính chung trong tháng 10 vừa qua, VN-Index đã tăng 102,21 điểm, tương đương tăng 7,6%.

chung khoan co duy tri duoc dinh cao moi

Thanh khoản thị trường vẫn rất mạnh mẽ với giá trị giao dịch đạt hơn 20.000 tỷ đồng mỗi phiên. Qua quan sát cho thấy kết quả đến từ động thái tăng điểm của hai nhóm ngành chiếm tỷ trọng vốn hóa lớn nhất trên thị trường là ngân hàng và bất động sản trong tuần qua. Các mã ngân hàng tăng trưởng tốt gồm có ACB, CTG, HDB, TPB, VCB, VPP. Trong đó, CTG đã công bố các chỉ tiêu kinh doanh trong quý III/2021 với lợi nhuận trước thuế là 3 ngàn tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, nợ xấu xuống 1,67% và tín dụng tăng trưởng 6,8% so với đầu năm.

Bên cạnh đó, nhóm ngành bất động sản cũng có nhiều mã tăng điểm ấn tượng như: DIG, DXG, KBC, KDH, LDG, NLG, VHM, VIC và VRE. Trong quý III/2021, KBC đạt doanh thu 325 tỷ đồng tăng 61% nhưng lại lỗ trước thuế 68,4 tỷ đồng so với khoản lỗ 21 tỷ đồng trong quý III/2020. Dù vậy doanh thu và lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm nay của KBC đạt 3.076 tỷ đồng và 737 tỷ đồng, lần lượt tăng 3 lần và 7,6 lần so với cùng giai đoạn năm trước.

Dòng tiền còn đổ mạnh vào cổ phiếu các công ty chứng khoán với mã tăng mạnh là BSI, BVS, HCM, MBS, SHS và VND. Khối ngoại có dấu hiệu ổn định trở lại với việc mua ròng trên cả 2 sàn HNX và HSX. Hai mã HPG và GAS là những cái tên đứng đầu danh sách thu hút tiền mua ròng của khối ngoại.

Lý giải về mức tăng khá bất ngờ của chứng khoán tuần qua, một số phân tích cho rằng kinh tế đang dần mở cửa trở lại vào đúng giai đoạn kinh doanh chính trong năm sẽ hỗ trợ tốt cho các doanh nghiệp niêm yết. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp lớn như Masan, ngành Ngân hàng, dầu khí thông báo lợi nhuận khả quan bất chấp dịch bệnh tàn phá nặng nề trong quý III cũng giúp các nhà đầu tư cảm thấy lạc quan phần nào.

Nhưng động lực kích thích lớn nhất cho thị trường chứng khoán có lẽ đến từ kỳ vọng vào gói hỗ trợ mới mà Chính phủ đang dự định triển khai từ đây đến năm sau với quy mô có thể lên đến 20.000 tỷ đồng. Và dự tính sẽ xây dựng gói hỗ trợ lãi suất khoảng 3.000 tỷ đồng, tương ứng dư nợ lên tới 100.000 tỷ đồng để hỗ trợ các doanh nghiệp kiệt quệ bởi đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó, Chính phủ dự kiến sẽ tăng tốc độ giải ngân đầu tư công để tác động mạnh mẽ đến ngành xây dựng, từ đó lan tỏa tích cực đến các ngành khác, kích thích kinh tế tăng trưởng.

Một khía cạnh khác mà Việt Nam có thể hưởng lợi là sự suy yếu với rủi ro gia tăng của thị trường Trung Quốc có thể gián tiếp thúc đẩy dòng vốn đầu tư chứng khoán tìm đến VN-Index. Năm nay, nỗi lo vỡ bong bóng nhà đất, tập trung vào các vấn đề về khả năng thanh toán của công ty Evergrande và nguy cơ lây lan sang phần còn lại của lĩnh vực này đang đè nặng lên nền kinh tế Trung Quốc.

Các nguy cơ đáng kể khác là khủng hoảng năng lượng và nỗ lực kiềm chế sự bất bình của xã hội do hậu quả kinh tế của đại dịch vốn đã dẫn đến sự kiểm soát pháp lý nhiều hơn đối với các tập đoàn công nghệ. Nhiều rủi ro và áp lực khiến giới đầu tư lo ngại rằng nền kinh tế thứ hai thế giới sẽ ngừng là đầu tàu tăng trưởng kinh tế của thế giới giống như các năm qua.

Để đa dạng hóa rủi ro và tiềm ẩn cơ hội đầu tư khả quan hơn, một số quỹ đầu tư đang nhìn vào khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam thị trường trong khu vực tăng giá mạnh nhất trong năm, với mức tăng 92,6% so với Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.

Tất nhiên, sẽ cần thời gian để kiểm chứng liệu chứng khoán Việt có trụ vững trên đỉnh mới khi mà nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do dịch bệnh gay ra. Theo chứng khoán VCBS, trong bối cảnh hiện tại, nhà đầu tư có thể tiếp tục giải ngân với tỷ trọng từ nhỏ đến vừa, trong đó trọng tâm là những cổ phiếu vốn hóa lớn đang đóng vai trò dẫn dắt sự hồi phục của chỉ số cùng một số cổ phiếu vốn hóa trung bình có nền tảng tài chính lành mạnh và triển vọng tăng trưởng tốt trong quý IV/2021 và năm 2022. Trong đó ngắn hạn có thể tập trung vào các cổ phiếu “trụ” đang dẫn dắt chỉ số thuộc các nhóm ngành Ngân hàng, bất động sản, chứng khoán.

Nam Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.493 22.793 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.520 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.503 22.790 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.515 22.795 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.750
53.450
Vàng nữ trang 9999
52.450
53.150