Chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng bền vững

10:30 | 18/09/2020

Phát biểu tại Diễn đàn Công nghệ và Năng lượng Việt Nam 2020 diễn ra sáng ngày 17/9/2020, ông Trần Văn Tùng - Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, trong giai đoạn vừa qua, ngành năng lượng Việt Nam đã có bước phát triển nhanh, tương đối đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực, bám sát định hướng và đạt được nhiều mục tiêu đáng ghi nhận.

Triển vọng phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam
Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia: Gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái
Nguồn điện NLTT đã đóng góp đáng kể để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội

Trong đó, cung cấp năng lượng, đặc biệt là cung cấp điện đã cơ bản đáp ứng đủ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam đứng thứ 27/190 quốc gia/vùng lãnh thổ; công nghiệp khai thác dầu khí và lọc hoá dầu phát triển mạnh; sản lượng khai thác than thương phẩm tăng; thuỷ điện phát triển nhanh, gần đây điện gió và điện mặt trời bắt đầu phát triển với tốc độ cao.

Đồng thời, huy động được nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, năng lượng trở thành ngành đóng góp rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại nhiều địa phương và đất nước.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, ngành năng lượng vẫn còn nhiều hạn chế như các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu, phải nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn. Một số chỉ tiêu bảo đảm an ninh năng lượng đang biến động theo chiều hướng bất lợi; cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ; trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được nâng cao, việc nội địa hoá và hỗ trợ thị trường từ các dự án trong ngành năng lượng cho hàng hoá cơ khí chế tạo sản xuất trong nước còn hạn chế… 

Đồng quan điểm trên, ông Nguyễn Tuấn Anh - Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) cho rằng: “Năng lượng quốc gia vẫn còn nhiều hạn chế, mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đối mặt với nhiều thách thức… Bên cạnh đó, công tác quản lý, khai thác nguồn tài nguyên năng lượng còn một số hạn chế, hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn nhiều bất cập; trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được nâng cao; chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động trong một số lĩnh vực còn thấp”.

Trước những hạn chế trên, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về phát triển hạ tầng, chiến lược năng lượng quốc gia. Ông Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về “Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã đề ra những mục tiêu quan trọng để bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững, tăng cường khả năng tiếp cận năng lượng với dịch vụ và giá cả hợp lý…

Theo ông, trong giai đoạn vừa qua, khi thị trường điện năng lượng tái tạo (NLTT) tại Việt Nam còn mới mẻ, chi phí phát triển nguồn điện NLTT cao hơn so với các nguồn điện truyền thống. Để thúc đẩy phát triển thị trường điện NLTT, Việt Nam áp dụng cơ chế hỗ trợ giá điện cố định (FIT) là công cụ chính sách phổ biến được hầu hết các nước trên thế giới sử dụng. Thực tế đã chứng minh, cơ chế giá FIT là công cụ hữu hiệu thúc đẩy phát triển nhanh nguồn điện NLTT, đặc biệt đối với những thị trường mới như Việt Nam.

Tại Việt Nam, hiện đã có khoảng gần 6.000 MW điện NLTT vào vận hành phát điện, góp phần cung cấp điện kịp thời cho nền kinh tế, giảm lượng điện chạy dầu giá cao và chuyển dịch năng lượng theo hướng phát triển bền vững, giảm phát thải khí nhà kính. Đối với nguồn điện NLTT, tính tới thời điểm tháng 7/2020, trên hệ thống điện quốc gia có tổng cộng 99 nhà máy điện mặt trời vận hành với tổng công suất là 5.053 MW. Hiện cũng có 11 nhà máy điện gió đang hoạt động với tổng công suất là 429 MW và 325 MW điện sinh khối, điện chất thải rắn gần 10 MW.

Như vậy, tổng công suất điện gió và mặt trời đã là 5.482 MW, chiếm khoảng 9,5% tổng công suất nguồn đặt của hệ thống. Riêng đối với điện mặt trời mái nhà, tính đến ngày 31/8/2020 đã có trên 47.000 hệ thống được lắp đặt với tổng công suất 1.128 MWp. Như vậy, nguồn điện NLTT đã đóng góp đáng kể để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu sinh hoạt của người dân. 

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Anh Tuấn, trong thời gian tới, theo kinh nghiệm của các nước phát triển trong lĩnh vực NLTT, để có thể phát triển mạnh mẽ, bền vững thì cần tập trung vào các nội dung chính như chính sách, hạ tầng truyền tải và điều độ vận hành hệ thống điện. Về chính sách, các dự án NLTT sẽ chuyển sang cơ chế đấu thầu. 

Ông Đinh Thế Phúc - Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp) cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế khuyến khích phát triển các nguồn NLTT đảm bảo minh bạch, hài hòa lợi ích kinh tế - xã hội và môi trường; cơ chế hỗ trợ tài chính (cho vay lãi suất ưu đãi), ưu đãi về thuế để thúc đẩy phát triển năng lượng xanh, sạch.

Về khoa học công nghệ, cần tiến hành triển khai những chương trình nghiên cứu và phát triển tầm cỡ quốc gia về chuyển đổi năng lượng, NLTT. Còn theo ông Trần Anh Tuấn - chuyên gia cao cấp Hội đồng Năng lượng thế giới tại Việt Nam, phát triển các dạng NLTT sẽ là xu thế tất yếu của thời đại, nhằm tạo ra các nguồn năng lượng sạch, giá rẻ, ổn định và bảo vệ môi trường.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.050 23.360 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.050 23.330 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.350 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.080 23.290 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.080 23.600 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.049 23.340 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.130 23.320 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
69.000
69.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
69.000
69.900
Vàng SJC 5c
69.000
69.920
Vàng nhẫn 9999
54.400
55.300
Vàng nữ trang 9999
54.100
54.900