Chuyên gia HSBC: Khó khăn khách quan là rủi ro lớn nhất

07:52 | 07/01/2020

Với ý chí, quyết tâm, nỗ lực và tinh thần đoàn kết cao kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả rất tích cực trong năm 2019. Trên nền tảng tích cực của năm 2019, kinh tế Việt Nam sẽ duy trì đà tăng trưởng ổn định trong năm 2020. Nhưng, các thách thức từ bên ngoài cũng rất lớn. Bà Yun Liu – Chuyên gia kinh tế của Khối Nghiên cứu Kinh tế Toàn cầu của Tập đoàn HSBC nhận định. 

Chính sách tiền tệ hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế
Kinh tế năm 2020: Giữ đà bứt phá để về đích thành công
Chuyên gia kinh tế Yun Liu

Nhìn lại tăng trưởng của kinh tế Việt Nam năm 2019, theo bà có những điểm nổi bật nào đáng lưu ý?

 Mặc dù nền kinh tế toàn cầu có rất nhiều thách thức, Việt Nam vẫn tiếp tục thể hiện ​​sự tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2019 và trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh thuộc top đầu châu Á và thế giới. ​​Tăng trưởng mạnh mẽ đó diễn ra ở khắp các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực sản xuất vẫn rất sôi động, một phần nhờ vào dòng vốn FDI được duy trì ổn định đã đóng góp thêm động lực cho sự tăng trưởng của năng lực sản xuất. Điều này cũng góp phần vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu, đặc biệt là ở mảng xuất khẩu các mặt hàng điện tử. Trong khi đó, nhu cầu nội địa mạnh mẽ và lượng khách du lịch tới Việt Nam tăng cao đã hỗ trợ cho các ngành dịch vụ phát triển ổn định.

Vậy bà đánh giá thế nào về triển vọng kinh tế của Việt Nam trong năm 2020? Những yếu tố nào sẽ thúc đẩy tăng trưởng trong năm nay?

Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ duy trì tăng trưởng ổn định trong năm 2020, nhờ vào các ngành công nghiệp chuyên phục vụ cho xuất khẩu vẫn phát triển sôi động và hoạt động mạnh mẽ của các ngành nội địa. Tuy nhiên, là một quốc gia luôn đáp ứng các nhu cầu xuất khẩu đi các nước, Việt Nam không tránh khỏi bị ảnh hưởng trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu đang chậm lại. Đặc biệt, ba đối tác thương mại lớn của Việt Nam bao gồm Mỹ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU) đang có xu hướng phát triển chậm lại trong năm 2020.

Cân nhắc đến những phát triển toàn cầu trong thời gian gần đây, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng của Việt Nam 2020 sẽ đạt được mức 6,6%. Tuy nhiên, song song với các cơ hội và thuận lợi đó, thì thách thức cũng không ít. 

Và những thách thức chính là gì, bà gợi mở khuyến nghị chính sách nào cho năm 2020?

Chúng tôi tin rằng những khó khăn mang yếu tố khách quan vẫn là rủi ro lớn nhất đối với nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại của Việt Nam. Tăng trưởng toàn cầu giảm tốc cũng sẽ làm giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam, ảnh hưởng đến tăng trưởng của Việt Nam. Việt Nam nên tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác nhau để khám phá các cơ hội xuất khẩu mới và tăng thu hút vốn đầu tư chất lượng cao để tiến lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đối với trong nước, những rủi ro về mặt nợ công hiện đã được quản lý tương đối tốt hơn so với các năm trước, nhưng tỷ lệ nợ công trên GDP vẫn còn cao. Chính phủ cần xem xét các biện pháp, chẳng hạn như tăng cường cơ chế thu thuế để cải thiện tình hình tài chính.

Dự báo của bà về những thách thức đối với chính sách tiền tệ năm 2020 và các khuyến nghị chính?

Với một nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại đôi chút nhưng áp lực lạm phát đã giảm đáng kể, chúng tôi cho rằng việc cắt giảm các lãi suất điều hành gần đây của NHNN chủ yếu mang tính chất đi trước đón đầu, phản ánh lập trường “phòng vệ” trước những rủi ro bên ngoài.

Chúng tôi kỳ vọng trong quý II/2020, NHNN có thể cắt giảm lãi suất thêm 25 điểm phần trăm trong bối cảnh dự báo của chúng tôi về tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại trong năm 2020 và những rủi ro khách quan vẫn còn đang hiện hữu. 

Tuy nhiên hiện áp lực lạm phát đang có xu hướng gia tăng có thể tạo những ảnh hưởng phức tạp đến quyết định của NHNN. Chẳng hạn giá thịt lợn tăng cao hơn dự kiến ​cũng ​có thể gây ra những rủi ro quỹ đạo lạm phát sẽ tăng thêm. Nếu tình hình diễn ra như vậy có thể dẫn đến việc NHNN sẽ trì hoãn cắt giảm lãi suất đến nửa cuối năm 2020.

Hiện Việt Nam đang xây dựng Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Bà mong đợi gì từ luật này và những gì cần phải được thực hiện để thực thi đạo luật một cách hiệu quả?

Chúng tôi nghĩ rằng cơ sở hạ tầng là một lĩnh vực quan trọng cần được chú trọng. Cơ sở hạ tầng đóng một vai trò trung tâm trong việc hỗ trợ Việt Nam tăng trưởng cao trong những năm gần đây, nhưng Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn để nâng cấp cơ sở hạ tầng hiện có và xây dựng cơ sở hạ tầng mới nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh của mình và phù hợp với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng. 

Với những hạn chế về ngân sách của Việt Nam và giới hạn về nợ công, mô hình PPP đã trở thành như một giải pháp bền vững để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng. Để khuyến khích và động viên sự góp mặt các nhà đầu tư tư nhân, cần có nhiều cải cách hơn nữa để giải quyết các vấn đề liên quan đến PPP và tạo ra môi trường đầu tư tốt hơn. Thật đáng khích lệ khi thấy các cơ quan chức năng Việt Nam đã thực hiện các bước theo định hướng này. Đặc biệt, Luật Đầu tư theo phương thức PPP dự kiến sẽ được thông qua tại kỳ họp Quốc hội tới trong đó sẽ tăng cường khung pháp lý và giải quyết các vấn đề còn sót lại liên quan đến các nhà đầu tư.

Xin cảm ơn bà!

PV thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950