Cơ hội để châu Á đóng vai trò hàng đầu xây dựng một tương lai bền vững hơn

12:15 | 20/07/2021

Citi vừa công bố một báo cáo cho thấy ngày càng có nhiều khách hàng doanh nghiệp của Citi áp dụng các giải pháp tài chính đa dạng để đạt những mục tiêu về Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) trong hoạt động kinh doanh của họ.

citi cong bo bao cao nhan manh cac co hoi de chau a dong vai tro hang dau xay dung mot tuong lai ben vung hon 116856
 

Đầu năm nay, Citi đã thực hiện một cuộc khảo sát với 259 khách hàng doanh nghiệp tại 14 thị trường trên khắp châu Á - Thái Bình Dương với mục tiêu hiểu rõ hơn cách doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu ESG. Kết quả của khảo sát cho thấy 54% lãnh đạo doanh nghiệp được hỏi cho biết đã có các chính sách và thực thi ESG tích hợp trong chiến lược công ty của họ, trong khi gần 90% dự định triển khai các chính sách và thực thi ESG trong 5 năm sắp tới.

Rõ ràng, tính bền vững trong hoạt động kinh doanh đang ngày càng được quan tâm tại châu Á. Dịch bệnh COVID-19 tạo ra thêm nhiều thách thức mới, các vấn đề ESG trước đây nằm ở ngoài sự chú ý của các doanh nghiệp hiện đang được đặt lên thành mục tiêu hàng đầu đối với nhiều công ty. Hơn 2/3 số lãnh đạo công ty được hỏi cho rằng COVID-19 là động lực của các chính sách và thực thi mục tiêu ESG của họ.

Những động lực chính đằng sau việc áp dụng các tiêu chuẩn ESG của doanh nghiệp tham gia khảo sát bao gồm: sự phù hợp với chiến lược phát triển bền vững tổng thể của doanh nghiệp (65%); tác động tích cực đến mối quan hệ với khách hàng và các bên liên quan (57%); các yếu tố xã hội và môi trường (48%); các nghĩa vụ theo quy định phải tuân thủ và những thay đổi dự tính trước để phù hợp với chính sách và quy định của cơ quan quản lý (42%); tiếp cận nguồn vốn dành riêng cho các dự án ESG (28%); nhu cầu và giá cả tác động đến các sản phẩm ESG (22%).

“Là ngân hàng toàn cầu đi theo định hướng giá trị, chúng tôi cam kết hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải khí carbon thấp. Chúng tôi coi tài chính bền vững vừa là nhiệm vụ vừa là cơ hội để hợp tác với khách hàng trên khắp các khu vực địa lý khác nhau, nhằm giúp các hoạt động của họ giảm thiểu tối đa lượng phát thải khí carbon và đạt được những mục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp," ông Peter Babej, Tổng Giám đốc Citi châu Á - Thái Bình Dương cho biết.

Cuộc khảo sát cũng yêu cầu các lãnh đạo doanh nghiệp xếp hạng ba bên liên quan có tiếng nói nhất trong việc ủng hộ những chính sách và thực thi ESG trong doanh nghiệp; 33% xếp hạng chính phủ/cơ quan quản lý ở vị trí hàng đầu, tiếp theo là các nhà đầu tư (21%) và khách hàng (20%).

Báo cáo của Citi nhấn mạnh sự tăng trưởng lĩnh vực tài chính môi trường ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Là một phần trong cam kết tài chính bền vững rộng lớn của Citi, ngân hàng đã huy động được hơn 25 tỷ đô la Mỹ cho khách hàng ở châu Á - Thái Bình Dương trong nửa đầu năm 2021, tăng khoảng 400% so với cùng kỳ năm 2020.

Citi đang tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp phát hành trên thị trường chứng khoán không chỉ bằng cách cung cấp tài chính xanh mà còn giúp họ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang một tương lai bền vững và công bằng hơn. Đồng thời, ngân hàng đang giúp các khách hàng bên mua xác định những cơ hội để chuyển đổi danh mục đầu tư của họ sang các công ty sạch hơn.

“Phạm vi của các nỗ lực tài trợ bền vững của chúng tôi đang mở rộng liên tục và bao hàm tất cả các phân khúc khách hàng - từ những nhà đầu tư định vị lại danh mục đầu tư của họ hướng tới các ngành công nghiệp xanh hơn, đến các công ty thiết kế lại mô hình kinh doanh của họ thông qua mua lại và thoái vốn. Cam kết của tập đoàn chúng tôi trong việc xây dựng một tương lai xanh hơn thể hiện ở tất cả các hoạt động như vậy", ông Babej nói thêm.

Citi hiện đang đồng phát triển các giải pháp cùng với những khách hàng bên đầu tư đảm bảo rằng các yêu cầu chính của họ được giải quyết. Một trường hợp điển hình gần đây là sự ra mắt những chỉ số ESG toàn cầu của Citi (Citi ESG World Indices), lần đầu tiên Citi cung cấp điểm chuẩn cho những công ty có hoạt động ESG hàng đầu trên các thị trường toàn cầu, giúp khách hàng bên mua chuyển đổi danh mục đầu tư của họ theo hướng ESG.

Báo cáo cũng nhấn mạnh những gì Citi đã và đang thực thi đối với các hoạt động của chính mình để đảm bảo một tương lai bền vững hơn. Trong 12 tháng qua, Citi đã đạt được mục tiêu môi trường là cung cấp 100% điện tái tạo cho tất cả các văn phòng và chi nhánh của mình trên toàn khu vực.

PV

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.850 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.830 23.050 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.850 23.065 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.835 23.050 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.880 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.950
51.650
Vàng nữ trang 9999
50.650
51.350