Cổ phiếu doanh nghiệp kinh doanh khu công nghiệp: Có hấp dẫn nhà đầu tư

09:23 | 29/05/2020

Sau khi giảm đáng kể do ảnh hưởng của thị trường chung, thị giá cổ phiếu của nhiều DN kinh doanh khu công nghiệp (KCN) được đánh giá đã về vùng hấp dẫn rất đáng để nhà đầu tư quan tâm.

Bà Hoàng Việt Phương - Giám đốc Trung tâm phân tích và tư vấn đầu tư (SSI) cho biết, FDI - nhà đầu tư chính vào KCN đã có những tín hiệu khởi sắc, tổng vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm 4 tháng đầu năm đạt 9,8 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Dịch Covid-19 mở ra một bước ngoặt mới, với mục đích giảm thiểu sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng làm gia tăng cấp bách nhu cầu đa dạng hóa danh mục sản xuất, tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào một quốc gia, sự dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang các quốc gia khác sẽ diễn ra nhanh chóng hơn.

Bên cạnh đó các DN lớn như Pegatron, Amazon và Home Depot đã bắt đầu có hoạt động tuyển dụng và tìm kiếm chuỗi cung ứng, cho thấy Việt Nam là một trong những điểm đến trong quá trình dịch chuyển, bên cạnh các quốc gia tiềm năng khác trong khu vực như Indonesia, Thailand hay Malaysia.

Ảnh minh họa

So sánh với Indonesia, nước cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam trong việc thu hút FDI, Việt Nam có lợi thế ở gần Trung Quốc nên khoảng cách vận chuyển thuận lợi hơn. Thể chế chính trị của Việt Nam rất hỗ trợ DN, có nhiều ưu đãi cho các dự án FDI lớn. Đồng thời Việt Nam cũng tham gia rất nhiều các FTAs như EVFTA hay CPTPP mà Indonesia không tham gia. Về vĩ mô, gần đây VND rất ổn định so sánh với biến động của IDR.

Trong quý I/2020, theo dữ liệu Collier International, so sánh tỷ lệ lấp đầy và giá thuê các KCN ở các nước Đông Nam Á, cho thấy Việt Nam khá hấp dẫn với mức giá thuê trung bình thấp hơn 45% - 50% so với các nước Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Theo báo cáo của Jetro năm 2019, chi phí lao động của Việt Nam cũng thấp hơn so với Thái Lan, Malaysia và Indonesia.

Cũng theo bà Phương, việc đẩy mạnh đầu tư công kỳ vọng tăng mạnh trong năm 2020 với kế hoạch 20 tỷ USD bên cạnh giá trị chưa giải ngân còn lại của năm 2019 là 9,5 tỷ USD. Tổng cộng quy mô giải ngân dự kiến trong 2020 rất lớn 30 tỷ USD. Đặc biệt các dự án cao tốc Bắc Nam, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết, giúp kết nối hạ tầng, logistic của các KCN ở các tỉnh vệ tinh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phan Thiết vào các trung tâm TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương. Từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh thu hút vốn FDI so với các quốc gia khác trong khu vực.

Theo Vụ Quản lý khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến quý I/2020 Việt Nam có 335 KCN được thành lập (tăng 5 KCN so với cuối năm 2019), trong đó có 260 KCN với tổng diện tích đất 68.700 ha đã đi vào hoạt động và 75 KCN đang xây dựng với tổng diện tích 29.200 ha. Tỷ lệ lấp đầy đạt 75% - tăng 0,7% so với cuối năm 2019.

Còn theo báo cáo JLL, từ tháng 2/2020 khi dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát, việc hạn chế di chuyển giữa các khu vực đã khiến các giao dịch bị đình trệ do các nhà đầu tư không thể trực tiếp thực địa và làm việc với chủ đầu tư KCN. Tuy nhiên, các giao dịch thành công được thực hiện trước dịch giúp tỷ lệ lấp đầy khu vực miền Bắc tăng 200 bps đạt 75%. Giá thuê các KCN phía Bắc cũng tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước đạt 99 USD/m2/chu kỳ thuê. Các KCN miền Nam có tỷ lệ lấp đầy đạt 82% và giá thuê đạt 101 USD/m2/chu kỳ thuê.

Trong nhóm này, nổi lên một số mã có nền cơ bản tốt nhà đầu tư nên quan tâm như SZC của Công ty cổ phần Sonadezi Châu Đức. SZC đã ghi nhận doanh thu quý I/2020 đạt 120 tỷ đồng, trong đó doanh thu cho thuê đất tại KCN Châu Đức đạt 103 tỷ đồng (+2,4x YoY), doanh thu phí đường bộ tại BOT 768 đạt 15,4 tỷ đồng (+0,1% YoY). Biên lợi nhuận gộp tiếp tục ghi nhận ở mức cao đạt 53,3%. Đồng thời, SZC ghi nhận cổ tức từ CTCP Sonadezi Long Bình 1,6 tỷ đồng, giúp doanh thu tài chính tăng 61,9% YoY.

Dự báo năm 2020, doanh thu đạt 365 tỷ đồng (+11% YoY), trong đó doanh thu cho thuê đất KCN đạt 284 tỷ đồng với diện tích thuê 50 ha và giá thuê 50 USD/m2/chu kỳ thuê, doanh thu phí BOT đạt 68 tỷ đồng (+3% YoY). Lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 137 tỷ đồng (+2,5% YoY). EPS dự ước năm 2020 đạt 1.374 đồng/cổ phiếu tương đương P/E đạt 13,61x.

Một mã khác cũng rất đáng chú ý là PHR của Công ty cổ phần Cao su Phước Hòa. Hoạt động của PHR không còn đơn thuần là DN sản xuất cao su tự nhiên khi lợi nhuận từ hoạt động này chỉ còn chiếm 5-6% trong năm 2020. Kỳ vọng vào lợi nhuận chuyển nhượng đất cho NTC trong năm 2020 giúp lợi nhuận sau thuế của PHR tăng trưởng mạnh, cùng với tỷ lệ cổ tức cao 8,9% là những điểm nhấn đầu tư vào PHR.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550