Cổ phiếu ngân hàng được định giá tốt lên

09:04 | 06/05/2019

Công ty chứng khoán Rồng Việt vừa nâng dự phóng mức EPS trung vị của các ngân hàng Việt Nam lên 5% cho năm 2019 nhờ dự phóng biên lợi nhuận cao hơn và chi phí dự phòng rủi ro thấp hơn. Theo đó, giá mục tiêu của các mã cổ phiếu ngân hàng niêm yết từ đó cũng được dự đoán sẽ tăng lên ít nhất từ 10-20% từ nay đến cuối năm.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 2-4/5
Chứng khoán 3/5: Cá rỉa mồi

Về mặt khách quan, nhà đầu tư sớm hình dung được rằng, tại mùa đại hội cổ đông năm nay, các ngân hàng cổ phần tư nhân đều đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khá cao. Dù rằng NHNN khẳng định sẽ không cấp thêm hạn mức tín dụng trong năm nay, trừ trường hợp đặc biệt, nhưng thiết nghĩ tăng trưởng tín dụng cũng sẽ phụ thuộc khá nhiều vào năng lực vốn của các ngân hàng.

Ảnh minh họa

Đồng thời, việc tăng lợi tức tài sản có nhờ việc phân bổ lại danh mục, điển hình là tăng mảng cho vay bán lẻ, cũng đang bù đắp chi phí vốn, nên mỗi ngân hàng đều đang có lợi thế trong việc giảm bớt áp lực tăng chi phí vốn trong ngắn hạn. Những điều này đã giúp cho cổ phiếu các ngân hàng tư nhân có giá trị hơn trong rổ chứng khoán.

Xét riêng từng mã, cổ phiếu có mức tăng linh hoạt được nhiều chuyên gia đồng tình của giới chuyên môn phải kể đến là mã cổ phiếu MBB của Ngân hàng Quân đội. Bởi trong giai đoạn vừa qua ngân hàng này đã có tăng trưởng đáng kể trong hoạt động cho vay, một phần do tăng trưởng tài chính tiêu dùng và đa dạng hóa thu nhập từ các dịch vụ khác, giúp thúc đẩy tăng trưởng thu nhập trong ngắn hạn.

Hơn nữa, sau giai đoạn khóa tỷ lệ sở hữu cổ phần nhà đầu tư nước ngoài ở mức 20%, trong đại hội cổ đông mới đây, lãnh đạo Ngân hàng Quân đội dự kiến sẽ mở phần 10% còn lại để phục vụ cho việc phát hành riêng lẻ vào cuối năm nay.

Thế nên, nhà đầu tư có thể kỳ vọng rằng sau khi sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài được nới thêm thì việc Ngân hàng Quân đội phát hành riêng lẻ có thể được thực hiện ở mức giá cao gấp ba hoặc gấp bốn lần mệnh giá. Sau đó thặng dư vốn cổ phần thu được sẽ dùng để chia cổ tức cổ phiếu 8-10% trong 5 năm tiếp theo.

Mức định giá cổ phiếu MBB hiện đang giao dịch ở mức 21.900 đồng/cổ phiếu, tương đương với PBR dự phóng 2019 tương đối hấp dẫn là 1,2 lần, có thể thấy giá này thấp hơn khoảng 39% so với giá mục tiêu của các nhà phân tích đưa ra khoảng 30.500 đồng, nhưng MBB xứng đáng với khuyến nghị tích cực hơn.

Không chỉ có cổ phiếu MBB, việc tăng thêm tích lũy đối với HDB của Ngân hàng Phát triển TP.HCM hay ACB cũng được rất nhiều ý kiến đồng tình. Ví dụ như mã ACB, theo đánh giá của Công ty chứng khoán KIS Vietnam, năm 2019 dự báo tăng trưởng tín dụng và huy động của ACB sẽ lần lượt đạt 15,8% và 12,8% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế của ACB có thể được dự đoán tăng tương ứng 15,4% lên 5.929 tỷ đồng.

Theo đó EPS dự báo đạt 4.634 đồng. Như vậy, với chất lượng tài sản lành mạnh và khả năng duy trì tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu hơn 20% trong 3-5 năm tới, mức giá hiện tại của ACB có thể được điều chỉnh tăng lên mức mục tiêu là 38.800 đồng hoặc cao hơn.

Với các mã cổ phiếu của ngân hàng có vốn nhà nước chi phối như CTG, BID hay VCB, việc định giá những mã cổ phiếu này cũng được nâng lên từ việc các ngân hàng này công bố tiếp tục đà tăng trưởng thu nhập mạnh mẽ trong năm 2018 và tiếp tục tăng trưởng trong quý I/2019.

Ngoài ra, nếu các ngân hàng tiếp tục giải quyết triệt để các khoản nợ xấu thông qua trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý nợ thì việc thu từ nợ đã xử lý sẽ đóng góp đáng kể vào lợi nhuận trong trung hạn cho các ngân hàng này. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng các mã cổ phiếu này nhà đầu tư cần phải xem xét ở góc nhìn trung lập vì hoạt động đặc thù của nhóm cổ phiếu này.

KIM

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.067 23.267 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.620
51.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.620
51.470
Vàng SJC 5c
47.620
51.490
Vàng nhẫn 9999
47.470
51.270
Vàng nữ trang 9999
47.170
50.970