Cổ phiếu ngân hàng tiếp tục tạo "sức nóng", thu hút nhà đầu tư

09:00 | 13/05/2021

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam trong những ngày qua chứng kiến sự trở lại mạnh mẽ về giá trị của nhóm cổ phiếu ngân hàng. Một số chuyên gia nhận định, cổ phiếu ngân hàng liên tiếp tăng điểm với quy mô thanh khoản cao, thu hút các nhà đầu tư, xu hướng này sẽ tiếp tục trong thời gian tới.

co phieu ngan hang tiep tuc tao suc nong Cổ phiếu ngân hàng dẫn dắt, VN-Index tăng 13,05 điểm
co phieu ngan hang tiep tuc tao suc nong Cổ phiếu ngân hàng khẳng định vị thế “cổ phiếu vua”
co phieu ngan hang tiep tuc tao suc nong Liên tiếp nhận đánh giá tích cực, cổ phiếu ngân hàng "nổi sóng"
co phieu ngan hang tiep tuc tao suc nong
Cổ phiếu ngân hàng "bừng sáng" trên thị trường chứng khoán

Đà tăng dẫn dắt thị trường

Trong những ngày qua, cổ phiếu ngân hàng đang là điểm đến của nhiều nhà đầu tư. Nhờ thế, một số cổ phiếu ngân hàng có tên tuổi như VPB, TCB, MBB, STB, CTG... được thống kê thanh khoản tính theo giá trị giao dịch liên tục tăng.

Cụ thể, sự bùng nổ thanh khoản nhóm cổ phiếu ngân hàng từ đầu tháng 5/2021 đến nay rất rõ nét. Trong phiên giao dịch tăng mạnh nhất vừa qua với 4 cổ phiếu ngân hàng đồng loạt giao dịch vượt 1.000 tỷ đồng, thanh khoản thấp nhất là mã CTG của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) đạt 1.072 tỷ đồng và cao nhất là mã VPB của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) với 1.431 tỷ đồng. Đó cũng là phiên giao dịch tại các cổ phiếu ngân hàng chiếm tới 30% tổng giá trị khớp lệnh cả 2 sàn.

Đặc biệt, chỉ trong tuần gần đây nhất, top 30 vốn hóa toàn thị trường, cả 4 vị trí dẫn đầu về mức tăng giá đều thuộc về các cổ phiếu nhóm ngân hàng như mã TCB của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) tăng 14,8%, mã CTG tăng 7,4%, mã VPB tăng 5,1%...

Chỉ riêng trong phiên giao dịch ngày 12/5, nhóm cổ phiếu ngân hàng dẫn đầu đà tăng đến hết phiên. Trong đó, mã STB của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được kéo lên mức giá trần 26.350 đồng/cổ phiếu kèm lượng giao dịch lớn lên gần 60 triệu đơn vị. Hay mã TCB tăng 4,5% lên 49.100 đồng/cổ phiếu; TPB của Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) tăng 2,6% lên 31.800 đồng/cổ phiếu…

Không chỉ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, một số mã cổ phiếu ngân hàng có giá liên tục tăng trong thời gian dài. Đơn cử như, trong năm 2020, mã SHB của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) là quán quân với mức tăng giá cổ phiếu đạt hơn 210% ở mức 17.000 đồng/cổ phiếu; cổ phiếu VIB của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) đạt mức tăng 89%, đạt mức giá 32.400 đồng/cổ phiếu…

Tiếp tục nhiều triển vọng tăng trưởng

Chia sẻ với báo chí, ông Trần Đức Anh, Giám đốc chiến lược thị trường Chứng khoán KBS phân tích, nhóm cổ phiếu ngân hàng trong vài tuần trở lại đây đón nhận nhiều động lực tăng trưởng mạnh từ mùa báo cáo lợi nhuận khả quan, các số liệu vĩ mô tích cực, các chính sách hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước, hay một số động lực tăng trưởng riêng ở từng ngân hàng liên quan đến thông tin thoái vốn công ty con, bán cổ phần cho đối tác chiến lược, tăng vốn, trả cổ tức, kế hoạch kinh doanh lạc quan... Theo đó, mặt bằng giá cổ phiếu nhóm ngành này đã có sự bứt tốc mạnh mẽ và là ngành dẫn dắt chính cho thị trường chung trong thời gian qua.

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính, nhóm cổ phiếu ngân hàng vẫn sẽ có sức nóng thu hút nhà đầu tư khi tăng trưởng lợi nhuận của nhóm ngành ngân hàng sẽ được dẫn dắt bởi sự phục hồi của nền kinh tế. Trong đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn ngành được kỳ vọng sẽ đạt mức từ 13- 14% trong năm 2021 này, cùng với đó hệ số biên độ lãi ròng - NIM (Net Interest Margin) sẽ còn tiếp tục được cải thiện khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, chi phí trích lập dự phòng đi ngang.

Bên cạnh đó, một chuyên gia tài chính khác cho rằng, việc tăng giá cổ phiếu bao giờ cũng phản ánh cả giá trị nội tại của doanh nghiệp về mức độ an toàn, khả năng sinh lời, mô hình tăng trưởng bền vững... đồng thời phản ánh các yếu tố thị trường như: môi trường kinh tế vĩ mô, các kỳ vọng của nhà đầu tư, giá vốn. Vì vậy, với triển vọng tăng trưởng của ngành Ngân hàng thì cổ phiếu ngân hàng sẽ là lựa chọn được nhiều nhà đầu tư hướng đến.

Điều này đã được nhiều công ty tài chính đồng thuận trong các báo cáo gần đây. Đơn cử, theo báo cáo của Công ty Quản lý Quỹ VinaCapital, ngành ngân hàng sẽ có triển vọng tốt hơn cho năm nay nhờ tỷ suất lợi nhuận cao hơn (tăng 14 điểm cơ bản lên 3,68%). Kết quả này đến từ việc các khoản vay được cơ cấu lại, phí giao dịch, thanh toán và bảo hiểm cao hơn (tăng từ 12,1% lên 13,4% trong tổng thu nhập). Bên cạnh đó, chi phí tín dụng thấp hơn khi lãi suất giảm, mặc dù dự phòng rủi ro tín dụng vẫn có thể gia tăng.

Hiện có hai yếu tố để có được nhận định này, đó là một số ngân hàng đã tất toán hết trái phiếu VAMC trong năm 2020 và các ngân hàng đã chủ động trích lập dự phòng cao hơn, tăng trưởng tín dụng nhanh hơn (12,8%), phù hợp với tốc độ tăng trưởng của GDP.

Cùng chung dự báo tăng trưởng tích cực của ngành Ngân hàng, Trung tâm Phân tích Chứng khoán SSI - SSI Research dự báo lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng sẽ tăng 24% năm 2021, được thúc đẩy bởi tăng trưởng tín dụng 15% và chi phí tín dụng giảm 22 điểm cơ bản.

Động thái chia cổ tức và tăng vốn của các ngân hàng cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy giá cổ phiếu. Hiện nay, các nhà băng trên sàn có tổng số lượng gần 40 tỷ cổ phiếu. Theo ước tính sơ bộ, 3 sàn giao dịch sẽ có thêm hơn 8,6 tỷ cổ phiếu của các ngân hàng trong năm 2021, tương đương tăng hơn 21%, nếu các nhà băng trả cổ tức và chào bán theo kế hoạch trình cổ đông.

Hương Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.645 22.875 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.675 22.875 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.653 22.873 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.680 22.860 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.680 22.860 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.668 22.883 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.659 22.869 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.700 22.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000