Cổ phiếu ngân hàng vẫn là tâm điểm thị trường

14:34 | 15/08/2022

Cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn vừa qua duy trì được đà tăng trưởng tích cực, khẳng định vai trò trụ cột hỗ trợ thị trường.

Theo đánh giá của SSI, nhờ nhóm cổ phiếu ngân hàng khởi sắc tăng điểm trong tháng 7/2022 đã giúp thị trường đạt được trạng thái cân bằng. Bước sang tháng 8/2022, sự bứt phá nhóm cổ phiếu này giúp VN-Index vượt qua ngưỡng mốc quan trọng. Kết thúc phiên giao dịch ngày 12/8/2022, các cổ phiếu ngân hàng ngập tràn trong sắc xanh là một trong động lực giúp VN-Index tăng 10,26 điểm (0,82%) lên 1.262,33 điểm.

co phieu ngan hang van la tam diem thi truong
Ảnh minh họa

Không chỉ giá tăng, mà nhóm cổ phiếu ngân hàng liên tục được các nhà đầu tư (NĐT) ngoại, nội và tổ chức tự doanh mua vào. Một số cổ phiếu được NĐT ngoại gom mạnh có STB, CTG... Trong đó đáng chú ý có cổ phiếu HDB của HDBank, khối ngoại mua ròng gần chục phiên liên tiếp. Với chuỗi ngày mua ròng trên, nhà đầu tư nước ngoài đã nâng tỷ lệ sở hữu tại HDBank lên gần 347,3 triệu đơn vị, tương đương 17,1% cổ phần. Do ngân hàng này đã khóa “room'” ngoại ở mức 18%, nhà đầu tư nước ngoài chỉ còn có thể mua thêm gần 17,6 triệu cổ phiếu HDB. Tương tự HDBank, OCB cũng được nhà đầu tư nước ngoài mua 7 phiên liên tiếp. Sở hữu của khối ngoại tại OCB cũng sắp lên mức tối đa khi nắm giữ tới 21,76% cổ phần mà nhà băng này chốt “room” ngoại ở mức 22%.

Theo ông Trần Tánh - Phó phòng Phân tích và Nghiên cứu CTCK Yuanta Việt Nam, một trong những yếu tố tạo nên sức hút đối với cổ phiếu ngân hàng là dư địa tăng trưởng tín dụng. Nhiều NĐT kỳ vọng các ngân hàng được nới room tín dụng. Có thể cuối quý III sẽ có thêm ngân hàng được nới room.

Có chung nhận định, SSI Research kỳ vọng đợt cấp hạn mức tín dụng tiếp theo có thể diễn ra vào cuối quý III/2022 và mức điều chỉnh sẽ phụ thuộc vào sức khỏe tài chính của từng ngân hàng. Ngân hàng nào có lợi thế về tăng trưởng tín dụng so với ngân hàng khác thì doanh thu của ngân hàng đó trong những tháng cuối năm hứa hẹn tiếp tục tăng trưởng tích cực.

Yếu tố nữa cũng hỗ trợ cho đà tăng giá cổ phiếu ngân hàng là kế hoạch tăng vốn của một số ngân hàng được thực hiện thành công. Đây cũng là một trong những điều kiện mà các ngân hàng đang nỗ lực chạy đua, đáp ứng để có cơ hội được nới room tín dụng tốt hơn.

Bên cạnh đó, theo ông Tánh định giá hiện tại của nhóm cổ phiếu ngân hàng là khá hấp dẫn. Thực tế trong 6 tháng đầu năm, mức tăng trưởng trung bình của ngành Ngân hàng đạt trên 20%. Tuy nhiên, giá cổ phiếu lại giảm từ 30-40% so với mức đỉnh của giai đoạn trước. Chỉ số P/E của thị trường đã về 10-11 lần. P/B của riêng ngành Ngân hàng nằm ở mức khoảng 1,5 lần. Đây là mức tương đối hấp dẫn để NĐT cân nhắc đầu tư trong trung, dài hạn.

Tuy khó quay trở lại mặt bằng giá như năm 2021, nhưng ông Trần Tánh cho rằng, giá cổ phiếu ngân hàng sẽ phục hồi tốt trong giai đoạn tới và vẫn là nhóm ngành dẫn dắt thị trường tăng trưởng vượt qua mốc quan trọng.

Triển vọng cổ phiếu ngân hàng khá tích cực, nhưng theo giới chuyên môn, không phải tất cả các cổ phiếu ngân hàng đều tăng trưởng tốt mà có sự phân hoá. Với xu hướng tăng lãi suất huy động ảnh hưởng đến chi phí vốn của các ngân hàng rõ rệt. Nếu ngân hàng nào có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao sẽ không bị ảnh hưởng nhiều đến NIM, giữ được mức sinh lời tốt. Hoặc ngân hàng nào duy trì tỷ lệ LDR ở mức thấp cũng không bị áp lực tăng lãi suất để huy động vốn… Chẳng hạn, tỷ lệ CASA của MB tiếp tục cải thiện tăng 7% so với quý trước do tiền gửi doanh nghiệp phục hồi nâng tỷ lệ này tại ngân hàng lên mức 45,5%. Hay như Sacombank hoàn thành một mốc quan trọng trong quá trình tái cơ cấu tính đến hết quý II/2022 với việc thoái thu hết lãi tồn đọng. Do đó, NIM của ngân hàng sẽ được cải thiện mạnh mẽ trong các quý sắp tới. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng có thể có các nguồn thu khác liên quan đến Bancasurance…

Thực tế, thanh khoản của nhóm cổ phiếu ngân hàng chiếm 30-40% giá trị giao dịch của toàn thị trường. Do đó, nếu nhóm này tăng giá, thu hút lại được dòng tiền thì dòng tiền vào thị trường chung cũng sẽ được kích hoạt. Nhất là dòng tiền ngoại đang là điểm sáng của thị trường chứng khoán liên tục mua ròng kể từ tháng 4 trở lại đây.

Bà Trần Thị Khánh Hiền – Giám đốc Khối phân tích của VNDIRECT cho biết kể từ tháng 4, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu quay trở lại mua ròng tích cực trên TTCK Việt Nam. Chỉ tính riêng trong 7 tháng năm 2022, khối ngoại mua ròng hơn 1.600 tỷ đồng.

Theo bà Hiền, dòng vốn ngoại thông minh vẫn sẽ chọn Việt Nam là điểm đến bởi các nhà đầu tư nước ngoài lạc quan với TTCK Việt Nam với mức tăng trưởng top đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cùng với đó, điều hành chính sách tiền tệ chắc tay của NHNN đã được kiểm định trong bối cảnh FED tăng liên tục lãi suất và thắt chặt chính sách tiền tệ. Lạm phát của Việt Nam vẫn được kiểm soát ở mức có thể chấp nhận. Đồng Việt Nam tiếp tục duy trì sức mạnh ổn định trong bối cảnh các đồng tiền khác trong khu vực như Yên (Nhật), Baht (Thái)… chịu áp lực mất giá trước đồng USD.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.310 23.610 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.270 23.630 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.270 23.590 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.570 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.260 23.750 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.309 23.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.940 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.350 23.640 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.900
67.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.900
67.900
Vàng SJC 5c
66.900
67.920
Vàng nhẫn 9999
54.600
55.600
Vàng nữ trang 9999
54.400
55.200