Cổ phiếu ngành nào hưởng lợi, ngành nào gặp khó

08:45 | 30/09/2022

Thị trường chứng khoán đang ở mức thấp nhất của năm 2022, VN-Index lùi dần về mức 1.140 điểm. Thanh khoản sụt giảm vì dòng tiền hạn hẹp. Với tình hình vĩ mô đang có những bất lợi cho thị trường từ nay đến cuối năm thì hai nhóm cổ phiếu được dự báo gặp khó nhất là dệt may và cảng biển.

GDP tăng trưởng ấn tượng

Tổng cục Thống kê vừa công bố, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III ước tăng 13,67% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất trong 12 năm qua. Sự bật tăng mạnh của quý III đã giúp GDP 9 tháng đầu năm tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng cục trưởng Tổng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương cho biết, đây là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong 12 năm trở lại đây, các hoạt động sản xuất kinh doanh dần lấy lại đà tăng trưởng, chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ đã phát huy hiệu quả.

Thế nhưng, thị trường chứng khoán vẫn giảm ở mức thấp nhất của năm 2022. Đặc biệt nhiều dấu hiệu cho thấy sự sụt giảm chưa dừng lại. Cụ thể đóng cửa phiên giao dịch 29/9, VN-Index còn 1.126, 07 điểm khi giảm thêm 17,55 điểm. Với mức này, VN-Index đã giảm gần 28% tính từ đỉnh ngày 6/1 là 1.528 điểm.

co phieu nganh nao huong loi nganh nao gap kho
Ảnh minh họa

Mặc dù thị trường đang diễn biến tiêu cực, nhưng theo ông Huỳnh Minh Tuấn, nhà sáng lập Công ty cổ phần FIDT, đây lại là cơ hội cho nhà đầu tư chọn lọc, tích lũy cổ phiếu để có thể “thắng lớn”. Theo ông Tuấn, bức tranh trong trung hạn của nền kinh tế vẫn rất hấp dẫn, bởi duy trì một mức tăng trưởng GDP cao (dự phóng tăng trưởng GDP 7% năm 2022). Dòng vốn FDI, FII vào Việt Nam đều nhìn vào các chính sách và các chỉ số như trên.

Ngành nào gặp khó?

Tuy nhiên không phủ nhận là rủi ro đối với nền kinh tế vẫn rất lớn. Đặc biệt vẫn còn lĩnh vực gặp nhiều khó khăn. Theo SSI Reach ngành dệt may sẽ là nơi bị “khó khăn bủa vây cho đến nửa đầu năm 2023” dù kết quả quý III khả quan. Mặc dù, trong tháng 8/2022, xuất khẩu hàng may mặc đạt 3,7 tỷ USD, tăng 53% so với cùng kỳ, mức cao kỷ lục cả về tốc độ tăng trưởng và con số tuyệt đối. Tuy nhiên, do lo ngại lạm phát và lượng hàng tồn kho ở mức cao của khách hàng mà trong nửa đầu tháng 9/2022, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chỉ đạt 1,2 tỷ USD, giảm 48% so với nửa đầu tháng 8 năm 2022.

Theo SSI Reach, các nhà sản xuất hàng may mặc trong nước có số lượng đơn hàng trong quý IV/2022 thấp hơn 25-50% so với quý II; doanh thu giảm 15-20% so với cùng kỳ theo ước tính, do lượng hàng tồn kho tại các thị trường nhập khẩu hiện ở mức cao. Tác động sẽ nghiêm trọng hơn đối với những doanh nghiệp có khách hàng chủ yếu ở Hoa Kỳ và EU. Xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc cũng có xu hướng giảm, nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều.

Theo SSI Reach, các đơn đặt hàng sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng bởi những lo ngại về lạm phát và suy thoái cho đến nửa đầu năm 2023 và khuyến nghị các nhà đầu tư nên giảm tỷ trọng nắm giữ cổ phiếu ngành này.

Cùng với đó, ngành cảng biển cũng không mấy sáng sủa khi thị trường vận tải biển đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu đi theo biến động toàn cầu. Sản lượng vận tải biển đã giảm tốc, trong khi giá cước vận tải có thể sẽ vẫn chịu áp lực cao cho đến năm 2023. Với triển vọng kém lạc quan hơn, SSI Reach đã điều chỉnh kỳ vọng ước tính đối với các mã chứng khoán HAH và GMD. Cụ thể, dự đoán tăng trưởng lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ của HAH và GMD sẽ giảm về mức -12% và +7,6 cho năm 2023.

Xây dựng, bất động sản sẽ hưởng lợi nhờ đầu tư công

Bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết, trong 9 tháng đầu năm, giải ngân đầu tư công mới đạt gần 47%. Theo Bộ này, tổng kế hoạch đầu tư vốn ngân sách Nhà nước năm 2022 được Quốc hội quyết nghị là trên 526.105 tỷ đồng. Nhưng đến 23/9, chỉ có 508.362 tỷ đồng được phân bổ, giao kế hoạch chi tiết cho các dự án đủ thủ tục đầu tư, đủ điền kiện giải ngân. Số liệu giải ngân vốn ngân sách Nhà nước từ Bộ Tài chính cho thấy, từ đầu năm đến ngày 30/9, chỉ có trên 253.148 tỷ đồng được giải ngân, đạt 46,7% kế hoạch năm. Phó Thủ tướng Lê Minh Khái cũng vừa ký ban hành Nghị quyết số 124/NQ-CP của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công các tháng cuối năm 2022 với mục tiêu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư nguồn ngân sách Nhà nước năm 2022 đạt 95 - 100% kế hoạch được giao; giải ngân 100% vốn ngân sách địa phương.

Công ty Chứng khoán KB (KBSV) cho rằng, các nhóm ngành được hưởng lợi từ yếu tố đầu tư công bao gồm nhóm hưởng lợi trực tiếp như vật liệu xây dựng, thi công và nhóm hưởng lợi gián tiếp như bất động sản, bất động sản khu công nghiệp.

Theo đó, nhóm doanh nghiệp ngành thép sẽ được hưởng lợi nếu các dự án hạ tầng xây dựng được đẩy mạnh như Tập đoàn Hòa Phát (HPG), nhờ thị phần thép lớn nhất Việt Nam cùng lợi thế cạnh tranh bền vững. Nhóm đá xây dựng sẽ có lợi ích sát sườn, nhất là các doanh nghiệp sở hữu mỏ đá gần các dự án trọng điểm có trữ lượng lớn tại Đồng Nai và Long Thành. Lĩnh vực sản xuất nhựa đường cũng được kỳ vọng hưởng lợi ở giai đoạn cuối của dự án đầu tư công, như Công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex (PLC). Nhóm lĩnh vực hạ tầng cũng có các doanh nghiệp góp mặt như các tên tuổi Đầu tư hạ tầng giao thông Đèo Cả (HHV), Cienco4 (C$G); Vinaconex (VCG) khi trúng thầu thi công dự án đầu tư công.

Nhung Sơn

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750