“Cổ phiếu vua” đang rẻ!

09:04 | 06/07/2022

Theo các chuyên gia trong bối cảnh thị trường giảm mạnh thời gian qua, cổ phiếu ngân hàng đang được định giá hấp dẫn và có triển vọng trong 6 tháng cuối năm 2022.

Giá đã vào vùng hấp dẫn

Số liệu thống kê của NHNN cho thấy, sau mùa đại hội cổ đông thường niên năm 2022, nhiều ngân hàng đã trình đại hội tăng vốn với tổng số vốn điều lệ của các ngân hàng tăng thêm ước khoảng 100.000 tỷ đồng. Theo đó, nhóm ngân hàng hiện chiếm gần 30% vốn hóa thị trường và có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường do nhiều ngân hàng có khối lượng cổ phiếu niêm yết “khủng”.

Thực tế dù được mệnh danh là “cổ phiếu vua” và các ngân hàng có nền tảng tài chính tốt, kinh doanh hiệu quả, song nhóm cổ phiếu ngân hàng cũng không nằm ngoài vòng xoáy khi thị trường suy giảm, khi đã để mất 20% giá trị chỉ trong 6 tháng đầu năm nay. Song dù sao mức giảm này vẫn là khá “khiêm tốn” nếu so với nhiều lĩnh vực khác. Trong đó nhiều mã vốn hóa lớn giảm sâu như: VCB giảm 6,2%, BID giảm 6,28%, CTG giảm 23,45%, VPB giảm 19%, TCB giảm 28,59%…

Do giá giảm nên theo Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, nhóm cổ phiếu ngân hàng đang được giao dịch với P/B (hệ số giá trên giá trị sổ sách) năm 2022 dự báo 1,2 lần, với tỷ suất ROE 21% - một mức định giá hấp dẫn.

co phieu vua dang re
Định giá nhóm cổ phiếu ngân hàng được nhận định đã đi vào vùng hấp dẫn

Trong khi triển vọng nhóm cổ phiếu ngân hàng phần nào có thể thấy ở các kế hoạch kinh doanh năm 2022. Nhiều ngân hàng tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ tức bằng cổ phiếu, trong đó có thể kể đến VPBank đã tăng vốn điều lệ lên gần 80.000 tỷ đồng, vượt lên top đầu các ngân hàng lớn. VPBank đã đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm nay ở mức 29.662 tỷ đồng. Nếu hoàn thành mục tiêu, đây sẽ là con số lãi cao nhất trong hệ thống ngân hàng, vượt mức 27.376 tỷ đồng của Vietcombank xác lập năm 2021. BIDV cũng lên kế hoạch lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm nay đạt 20.600 tỷ đồng, con số này ở Techcombank là 27.000 tỷ đồng...

Công ty Chứng khoán VNDirect đánh giá, lợi nhuận các ngân hàng năm 2022 sẽ duy trì mức tăng trưởng ước tính đạt 29,4% so với năm ngoái và 25,6% nếu loại trừ thu nhập bất thường của VPB, nhờ vào tín dụng và thu nhập từ phí tăng trưởng ổn định.

Thị trường sẽ có sự phân hoá mạnh

Triển vọng tăng trưởng của nhóm cổ phiếu ngân hàng cũng được nhiều công ty chứng khoán đánh giá tích cực. Song các đơn vị này cũng nhận định sẽ khó có sự bứt phá mạnh mẽ trong 6 tháng cuối năm do ngành Ngân hàng vẫn phải “gánh” nhiệm vụ hỗ trợ tăng trưởng cho nền kinh tế. Theo dữ liệu từ VNDirect, cổ phiếu ngân hàng đang giao dịch ở mức P/B dự phóng trung bình 1,3 lần trong năm 2022 - thấp hơn nhiều so với P/B trung bình ba năm qua là 2 lần. Điều đó cho thấy nhà đầu tư vẫn đánh giá cổ phiếu ngân hàng sẽ tăng trưởng lợi nhuận tốt và khả năng sinh lời cao, song trong ngắn hạn sẽ chưa thể hoàn toàn phục hồi như giai đoạn trước.

Bên cạnh đó, Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV dự báo, tăng trưởng GDP cả năm 2022 có thể đạt 6,5-7% theo kịch bản tích cực. Trong xu hướng phục hồi tích cực của nền kinh tế sẽ tạo lực đẩy lớn để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng. Thời gian qua lãi suất huy động cũng đã tăng nhưng lãi suất cho vay vẫn được duy trì ổn định nhằm hỗ trợ phục hồi nền kinh tế theo định hướng của Chính phủ và NHNN. Cơ quan này đánh giá việc điều hành lãi suất của NHNN là phù hợp nhằm tạo điều kiện cho các TCTD ổn định mặt bằng lãi suất cho vay.

Cùng với mặt bằng lãi suất cho vay được giữ ổn định, các công ty chứng khoán cũng dự báo NHNN sẽ nới “room” tín dụng phù hợp với diễn biến phục hồi của nền kinh tế. “Chúng tôi cho rằng NHNN sẽ nới “room” tín dụng trong tháng 8 thay vì tháng 7 như thị trường kỳ vọng”, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam đánh giá.

Tuy nhiên theo các chuyên gia, việc điều hành tín dụng của NHNN sẽ rất thận trọng khi mà áp lực lạm phát đang ngày một lớn. Vì vậy các nhà băng cũng không thể đặt ra kỳ vọng kế hoạch kinh doanh sẽ tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 6 tháng còn lại của năm 2022.

Ngoài ra, triển vọng kinh doanh của nhóm ngân hàng cũng có sự phân hoá cao. Một số cổ phiếu ngân hàng được kỳ vọng hưởng lợi từ “câu chuyện riêng” mà nhà đầu tư cần phân tích kỹ lưỡng để có lựa chọn phù hợp.

Đơn cử, thị trường bancassurance dự báo sẽ tiếp tục sôi động và là động lực chính thúc đẩy lợi nhuận của các ngân hàng. Bên cạnh đó, theo giới chuyên gia hoạt động mua bán – sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng cũng sẽ diễn ra sôi động hơn trong thời gian tới khi nền kinh tế phục hồi, đặc biệt là việc “se duyên” với các đối tác ngoại.

Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc phân tích Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam nhìn nhận triển vọng nhóm cổ phiếu ngân hàng còn đến từ việc nới “room” ngoại trong năm 2022 theo cam kết của Việt Nam với Liên minh châu Âu khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực. Theo lộ trình, Việt Nam sẽ cho phép các nhà đầu tư đến từ châu Âu có thể sở hữu tới 49% vốn điều lệ của hai ngân hàng Việt Nam.

Một chuyên gia ngân hàng cũng cho rằng, việc “se duyên” với các đối tác ngoại không chỉ giúp các ngân hàng trong nước mở rộng quy mô vốn, mà quan trọng hơn là trình độ công nghệ và năng lực quản trị, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh trên thương trường. Điều đó cũng có nghĩa, triển vọng tăng trưởng của cổ phiếu các nhà băng này là rất sáng sủa.

Đồng thời, quá trình tái cơ cấu lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng càng cho thấy triển vọng của cổ phiếu ngân hàng tuy khó có thể bứt phá trong ngắn hạn nhưng lại đang hấp dẫn nếu nhìn đường dài.

Huy Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.266 23.821 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.244 23.535 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.225 23.540 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.300
Vàng SJC 5c
66.300
67.320
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000