Công nghiệp chế biến sẽ phục hồi khả quan hơn

10:04 | 24/07/2019

Triển vọng nhóm ngành chủ chốt này trong 6 tháng cuối năm được Bộ Công thương dự báo sẽ có sự phục hồi khả quan hơn do đã xuất hiện các nhân tố tạo động lực tăng trưởng...

Đẩy mạnh công nghệ để phát triển công nghiệp chế biến
Ảnh minh họa

Vẫn là điểm sáng, đóng góp chính vào tăng trưởng của khu vực công nghiệp cũng như tăng trưởng của toàn toàn ngành công thương và nền kinh tế với mức tăng 10,8%, tuy nhiên, mức tăng trưởng này của công nghiệp chế biến - chế tạo vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra của Bộ Công thương là tăng 12,7% và thấp hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 12,7%).

Điều đó đòi hỏi ngành Công Thương cần nỗ lực, tận dụng mọi cơ hội và tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của DN để đạt được mục tiêu tốc độ tăng trưởng công nghiệp chế biến - chế tạo tăng 12-13%, đưa sản xuất công nghiệp đạt mục tiêu tăng trưởng 9-10% vào cuối năm.

Báo cáo của Bộ Công thương cho thấy, tính chung 6 tháng đầu năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp - chế biến, chế tạo, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 tăng 11,9%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến - chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2019 tăng 16,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 11,4%).

Nguyên nhân tăng trưởng của nhóm công nghiệp chế biến - chế tạo đạt thấp chủ yếu do một số dự án lớn có đóng góp cho tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp như: Liên hợp lọc dầu Nghi Sơn gặp sự cố về điện nên đã phải tạm dừng hoạt động 33 ngày, từ ngày 24/2/2019 đến ngày 29/3/2019; Nhà máy đạm Phú Mỹ dừng hoạt động 69 ngày, từ ngày 20/2/2019 đến ngày 30/4/2019. Các dự án ngành điện bị chậm tiến độ do vướng mắc trong thực hiện Luật Quy hoạch và công tác đền bù giải phóng mặt bằng ngày càng khó khăn, phức tạp nhất là các dự án lưới điện truyền tải.

Tuy nhiên yếu tố đáng chú ý nhất dẫn tới sự chững lại của ngành công nghiệp chế biến - chế tạo được Trung tâm Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) chỉ ra là do sức cầu đối với mặt hàng điện tử, điện thoại - vốn là những ngành hàng có đóng góp chính cho tăng trưởng của lĩnh vực này - chững lại. Trong khi Samsung đang ở chu kỳ chuyển đổi sản phẩm, nên sản lượng và xuất khẩu thấp hơn nhiều so với cùng kỳ.

Tuy nhiên, triển vọng nhóm ngành chủ chốt này trong 6 tháng cuối năm được Bộ Công thương dự báo sẽ có sự phục hồi khả quan hơn do đã xuất hiện các nhân tố tạo động lực tăng trưởng. Như chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến - chế tạo trong tháng 5, tháng 6 đã tăng cao hơn các tháng đầu năm. Đáng chú ý là ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học tháng 5 bắt đầu phục hồi sau 2 tháng liên tiếp tăng trưởng âm (tháng 5 tăng 6,5%; tháng 4 giảm 3%; tháng 3 giảm 3,3% so với cùng kỳ); qua đó tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng của ngành này trong các tháng tiếp theo.

Đặc biệt, nhiều ngành hàng của Việt Nam được đánh giá sẽ hưởng lợi để thay thế cho hàng Trung Quốc trên thị trường Mỹ. Đơn cử như dệt may và da giày đã có đơn hàng ổn định đến hết năm.

Cùng với đó là sự chuyển dịch đầu tư từ nền kinh tế thứ hai thế giới sang những thị trường lân cận cũng sẽ thúc đẩy dòng chảy FDI chảy mạnh vào Việt Nam tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm mà trong đó công nghiệp chế biến - chế tạo vẫn đang là lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm nhất của các nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, số liệu từ Bộ Kế hoạch và Ðầu tư cho thấy, dòng vốn FDI đổ vào ngành công nghiệp chế biến - chế tạo trong nửa đầu năm tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 13,15 tỷ USD, chiếm 71,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư vào Việt Nam tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm 2019 là cơ sở để kỳ vọng hoạt động sản xuất, xuất khẩu sẽ có những bứt phá trong những tháng tới.

Một nhân tố khác hỗ trợ cho tăng trưởng ngành công nghiệp và thu ngân sách những tháng tiếp theo đó là Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn đã chính thức vận hành lại các phân xưởng sản xuất sau thời gian bị sự cố. Trong khi dự kiến sản xuất ô tô sẽ tăng mạnh trong các tháng tới khi Nhà máy sản xuất ô tô VinFast chính thức đưa vào hoạt động nhà máy vào tháng 6 thay vì tháng 9/2019 như kế hoạch…

Ngành thép năm 2019 dự kiến sẽ tăng trưởng tốt, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế với xu hướng xuất khẩu các sản phẩm từ sắt thép sang các thị trường lớn khả quan, trong đó có thị trường Mỹ. Trong đó, động lực là dự án thép Formosa Hà Tĩnh năm 2019 sẽ đi vào vận hành 2 lò cao hết công suất, đạt công suất 7,5 triệu tấn/năm. Năm 2018, dự án này mới huy động khoảng 4,5 triệu tấn. Một dự án khác là Khu liên hợp gang thép Hòa Phát Dung Quất cũng có kế hoạch đi vào vận hành trong năm 2019.

Theo đó, lò cao số 1 dự kiến sẽ đi vào sản xuất trong tháng 6/2019, các lò cao còn lại sẽ hoàn thành theo tiến độ 4 tháng/lò. Dự tính, nếu huy động hết công suất sẽ sản xuất khoảng 2 triệu tấn thép. Qua đó đóng góp vào tăng trưởng của ngành thép nói riêng và sự phục hồi ngành công nghiệp chế biến - chế tạo 6 tháng cuối năm.

Hoa Hạ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.076 23..286 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.068 23.268 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
57.050
Vàng SJC 5c
55.100
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.200
54.100
Vàng nữ trang 9999
51.700
53.600