Covid-19 “bủa vây”, WB vẫn lạc quan với kinh tế Việt Nam

23:45 | 11/06/2021

Ngày 11/6, Ngân hàng Thế giới (WB) đã có báo cáo, cập nhật nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2021. Trước những khó khăn bủa vây, WB nhận định, kinh tế Việt Nam dường như phát triển tương đối tốt trong đợt bùng phát đại dịch lần này.

Theo WB, đợt bùng phát dịch Covid-19 thứ tư đã làm số ca nhiễm tăng mạnh nhất kể từ khi đại dịch bùng phát ở Việt Nam năm ngoái, khiến Chính phủ phải thực hiện các biện pháp hạn chế di chuyển cứng rắn hơn, kể cả ở các trung tâm đô thị lớn và một số khu công nghiệp.

covid 19 bua vay wb van lac quan voi kinh te viet nam
WB có những đánh giá tích cực nền kinh tế Việt Nam trong đợt bùng phát dịch bệnh lần này.

Chính quyền cũng đã phải đóng cửa một số nhà máy và khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, hai trung tâm công nghiệp quan trọng ở miền Bắc, cũng là tâm điểm của đợt bùng phát dịch này.

Công nghiệp chống chịu tốt, xuất nhập khẩủ khả quan

Báo cáo nhận định, do đợt bùng phát đại dịch lần này tập trung ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, trong đó nhiều nhất là ở Bắc Giang, Bắc Ninh nhưng nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp của cả nước trong tháng 5/2021, tháng khởi đầu của đợt bùng phát đại dịch lần thứ 4 vẫn tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

“Điều này cho thấy khả năng chống chịu cao của ngành công nghiệp trong nước”, Báo cáo đánh giá.

Trong 5 tháng đầu năm 2021, giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa vẫn đạt mức cao nhất mà Việt Nam từng ghi nhận, lần lượt tăng 29,1% và 35,4% so với cùng kỳ năm 2020.

Kết quả đáng chú ý này phản ánh sự tăng trưởng vững chắc trong xuất khẩu máy tính, điện tử và máy móc thiết bị. Điều này cũng phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của xuất khẩu điện thoại, dệt may và giày dép, lần lượt tăng 19,5%, 16,1% và 27,0% (so với cùng kỳ năm trước) trong 5 tháng đầu năm 2021.

Mức tăng trưởng trên diện rộng này được thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ từ Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng như nhu cầu đang phục hồi từ EU, ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Tương tự, tổng dòng vốn FDI cam kết trong 5 tháng đầu năm 2021 đạt 14 tỷ USD, tương đương 322.000 tỷ đồng, tương đương với cùng kỳ năm ngoái.

Về chỉ số tiêu dùng, trong tháng 5/2021 tăng 0,3% so với tháng trước, mức tăng chủ yếu đến từ các mặt hàng như xăng, dầu tăng giá. Ngoài ra, do thiếu hụt nguồn cung, giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất kim loại cũng tăng 4,8% so với tháng trước, làm tăng giá nhà ở và vật liệu xây dựng. So với cùng kỳ năm 2020, CPI tăng 2,9%, thấp hơn mục tiêu mà Quốc hội đề ra.

covid 19 bua vay wb van lac quan voi kinh te viet nam
Ngành xuất khẩu và công nghiệp có sức chống chịu và tăng trưởng tốt

Tăng trưởng tín dụng giảm nhẹ, giải ngân vốn đầu tư công chậm

Báo cáo của WB cho thấy, tín dụng tăng trưởng 1,1% (so với tháng trước) vào tháng 5/2021, giảm so với mức 2,0% trong tháng 4. “Sự giảm tốc nhẹ này có thể phản ánh các hoạt động kinh tế chậm lại do các biện pháp hạn chế di chuyển và giãn cách xã hội”, Báo cáo cho hay.

Báo cáo dự báo, dù đợt bùng phát dịch Covid-19 thứ tư tác động đến các hoạt động kinh tế thực, thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt. Lãi suất bình quân liên ngân hàng kỳ hạn một tháng tăng từ 0,9% trong tháng 4 lên 1,5% vào tháng 5, phản ánh tăng trưởng tiền gửi giảm mạnh hơn tăng trưởng tín dụng và có thể xảy ra một ít khó khăn về thanh khoản.

Đáng chú ý, Báo cáo nhận định, giải ngân vốn đầu tư công chậm tiếp tục làm giảm tổng chi ngân sách. Tỷ lệ giải ngân giảm có thể thấy ở cả cấp trung ương và địa phương, và đối với các dự án sử dụng vốn trong nước cũng như dự án sử dụng vốn ODA.

Theo Chính phủ, tình trạng thiếu nguyên liệu đầu vào khiến giá cả tăng cao là một trong những nguyên nhân góp phần làm chậm tiến độ triển khai các dự án đầu tư công.

Ngoài ra, trong tháng 5, Kho bạc Nhà nước đã phát hành 44.200 tỷ đồng trái phiếu trên thị trường trong nước. Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng giá trị vay nợ trong nước của Chính phủ đạt 109.700 tỷ đồng, tương đương 4,7 tỷ USD, bằng 31,3% kế hoạch năm 2021.

Vào cuối tháng 5/2021, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm là 2,27%, thấp hơn khoảng 9 điểm cơ bản so với cuối tháng 4, đảo ngược xu hướng tăng chi phí vay vốn được thấy từ tháng 1/2021.

Vẫn nhiều triển vọng cho nền kinh tế

Trước những khó khăn bủa vây, WB nhận định, kinh tế Việt Nam dường như phát triển tương đối tốt trong đợt bùng phát đại dịch lần này. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại, nếu dịch bệnh không được kiểm soát trong ngắn hạn.

Bên cạnh đó, vị thế kinh tế đối ngoại của Việt Nam cũng có thể bị giảm nhẹ với sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và cam kết vốn FDI. Các diễn biến này cần được theo dõi chặt chẽ trong những tuần tới.

Theo WB, điểm tích cực là Chính phủ đã củng cố dư địa tài khóa, vì vậy có thể xem xét chuyển sang chính sách tài khóa thích ứng hơn bằng việc hỗ trợ cho các hộ gia đình và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch, cũng như đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đầu tư công để thúc đẩy nhu cầu trong nước.

Báo cáo khuyến nghị, trong thời gian tới, cần đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của sản xuất công nghiệp và bán lẻ, vì cả hai ngành này đều có thể tiếp tục bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát dịch Covid-19 thứ tư. Xuất khẩu cũng có thể bị tác động do thu hẹp sản xuất ở một số khu công nghiệp.

“Nếu đợt bùng phát này không được nhanh chóng ngăn chặn, Chính phủ có thể cần xem xét áp dụng chính sách tài khóa thích ứng hơn để hỗ trợ các cá nhân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và kích thích nhu cầu trong nước”, Báo cáo cho hay.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.850 23.050 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.831 23.051 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.030 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.850 23.062 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.832 23.052 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900