COVID-19 kéo lạm phát và tăng trưởng năm 2021 xuống thấp

16:36 | 18/08/2021

Diễn biến dịch COVID-19 kéo dài và phức tạp, cùng với giãn cách xã hội được áp dụng tại nhiều địa phương, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu dùng và hoạt động sản xuất, kéo theo là lạm phát và tăng trưởng năm 2021 đều thấp hơn so với dự báo trước đó, theo một báo cáo vĩ mô vừa được Công ty CP Chứng khoán VNDIRECT phát hành.

covid 19 keo lam phat va tang truong nam 2021 xuong thap
Ảnh minh họa

Báo cáo Cập nhật vĩ mô của VNDIRECT với tiêu đề “Tăng trưởng chậm lại do ảnh hưởng từ đại dịch” đã hạ dự báo lạm phát bình quân năm 2021 xuống còn 2,4%, từ mức 2,9% trước đó, với nguyên nhân được đề cập là do nhu cầu tiêu dùng trong nước thấp và giảm, kéo theo giá các dịch vụ thiết yếu cũng giảm.

Dẫn diễn biến giá cả và chỉ số CPI thực tế trong giai đoạn tháng 4 đến tháng 7, báo cáo chỉ ra nguyên nhân là do chỉ số giá nhóm lương thực thực phẩm thấp hơn dự kiến trong bối cảnh giá thịt lợn giảm mạnh; nhu cầu tiêu dùng cũng giảm sau khi làn sóng COVID-19 lần thứ tư bùng phát; và tác động từ chính sách giảm giá, phí các dịch vụ thiết yếu như điện, nước sạch, viễn thông cho người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

Từ đó, VNDIRECT cho rằng điều này sẽ tiếp tục kiềm chế lạm phát trong những tháng còn lại của năm 2021.

Liên quan đến tăng trưởng, VNDIRECT đưa ra 2 kịch bản với dữ liệu nền tảng đều liên quan đến tình hình dịch COVID-19.

Tại kịch bản cơ sở (khả thi hơn), VNDIRECT giả định Việt Nam cơ bản kiểm soát được dịch bệnh trong tháng Tám, đẩy lùi hoàn toàn COVID-19 vào cuối quý III/2021; khoảng 50% dân số được tiêm ít nhất một liều vắc-xin; thí điểm mở cửa một số khu du lịch kể từ quý IV/2021; trong khi các nền kinh tế lớn cũng đẩy mạnh mở cửa trở lại nền kinh tế.

Theo đó, dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 sẽ đạt 5,5% (vẫn thấp hơn con số 6,5% đưa ra trước đó).

Nhưng ngay cả với kịch bản này, ngành dịch vụ có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi làn sóng lây nhiễm thứ tư. Một số phân ngành dịch vụ, bao gồm các hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống, vận tải và kho bãi, nghệ thuật và giải trí, các hoạt động dịch vụ hỗ trợ hành chính… có thể ghi nhận mức tăng trưởng âm trong quý III/2021 trước khi phục hồi trở lại vào quý IV/2021, sau khi Chính phủ nới lỏng các quy định về giãn cách xã hội ở các tỉnh phía Nam và cho phép các dịch vụ không thiết yếu được mở cửa trở lại.

VNDIRECT dự báo ngành dịch vụ tăng 3,2% so với cùng kỳ trong 6 tháng cuối năm.

Ngành công nghiệp và xây dựng cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi đợt bùng phát dịch lần thứ tư do một số nhà máy phải tạm dừng hoạt động trong nhiều ngày để ngăn chặn sự lây lan của vi-rút SARS-CoV-2.

Nhưng, VNDIRECT kỳ vọng hoạt động sản xuất công nghiệp sẽ phục hồi nhẹ trong tháng Tám do nhiều nhà máy đã bắt đầu mở cửa trở lại sau khi đáp ứng các yêu cầu về chống dịch và nhu cầu bên ngoài cao hơn đối với các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phục hồi.

Theo đó, ngành công nghiệp và xây dựng có thể đạt tăng trưởng 8,3% so với cùng kỳ trong 6 tháng cuối năm, thấp hơn một chút so với mức tăng 8,4% trong 6 tháng đầu năm.

Trong khi đó, ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản có thể đạt tăng trưởng 4,0% so với cùng kỳ trong 6 tháng cuối năm nhờ nhu cầu bên ngoài mạnh mẽ đối với các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là thủy sản như cá tra và tôm, và nhờ ngành chăn nuôi tăng trưởng mạnh quy mô đàn lợn.

covid 19 keo lam phat va tang truong nam 2021 xuong thap

Với kịch bản tiêu cực hơn, VNDIRECT giả định đợt lây nhiễm thứ tư sẽ kéo dài hơn; nhiều địa phương tiếp tục phải áp dụng giãn cách xã hội để ngăn chặn sự lây lan của vi-rút; thêm nhiều khu công nghiệp phải tạm dừng hoạt động, tỷ lệ tiêm chủng 30% số dân do thiếu vắc-xin; và việc mở cửa trở lại của các nền kinh tế lớn trên thế giới chậm hơn dự kiến.

Theo đó, GDP năm 2021 của Việt Nam có thể chỉ đạt tăng trưởng 5,0%.

Trong kịch bản tiêu cực, tác động của đại dịch đối với lĩnh vực dịch vụ sẽ kéo dài và trầm trọng hơn. VNDIRECT dự báo ngành dịch vụ chỉ tăng trưởng 2,4% so với cùng kỳ trong 6 tháng cuối năm (so với 4,0% trong 6 tháng đầu năm 2021 và 3,2% trong kịch bản cơ sở).

Ngành công nghiệp và xây dựng có thể phục hồi với tốc độ chậm hơn do sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu và nhu cầu bên ngoài lẫn trong nước sụt giảm. VNDIRECT dự báo ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 7,3% so với cùng kỳ trong 6 tháng cuối năm (so với 8,4% trong 6 tháng đầu năm 2021 và 8,3% trong kịch bản cơ sở).

Đối với ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản, VNDIRECT dự báo tăng trưởng 3,7% so với cùng kỳ trong 6 tháng cuối năm 2021 (so với 3,8% trong 6 tháng đầu năm 2021 và 4,0% trong kịch bản cơ sở) do nhu cầu bên ngoài đối với các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam thấp hơn.

Linh Lan

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.635 22.855 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.654 22.866 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.000
58.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.000
58.700
Vàng SJC 5c
58.000
58.720
Vàng nhẫn 9999
51.500
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.100
51.900