Covid-19 và triển vọng u ám toàn cầu tác động mạnh tới trái phiếu khu vực Đông Á mới nổi

09:53 | 25/03/2020

Đại dịch do virus corona chủng mới (Covid-19) và sự bất ổn định kinh tế toàn cầu ngày càng sâu sắc đang tác động mạnh mẽ tới các thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của các nền kinh tế Đông Á mới nổi, theo nhận định trong ấn bản mới nhất của báo cáo Giám sát Trái phiếu Châu Á do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) phát hành.

covid 19 va trien vong u am toan cau tac dong manh toi trai phieu khu vuc dong a moi noi

Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB, ông Yasuyuki Sawada, nhận định: “Các thị trường tài chính trong khu vực đang cảm nhận gánh nặng từ tác động của đại dịch Covid-19, với dòng vốn đầu tư nước ngoài và các hoạt động trong lĩnh vực này giảm sút, cộng thêm với các vấn đề thương mại đang tiếp diễn. Những nỗ lực nhằm giảm tác động tiêu cực của đại dịch thông qua các gói kích thích kinh tế và biện pháp tiền tệ để hỗ trợ các hộ gia đình, doanh nghiệp và thị trường tài chính bị ảnh hưởng cần được tiếp tục.”

Khu vực Đông Á mới nổi bao gồm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc); Hồng Kông, Trung Quốc; Indonesia; Hàn Quốc; Malaysia; Philippines; Singapore; Thái Lan và Việt Nam.

Ngoài khu vực Đông Á mới nổi, lợi suất trái phiếu chính phủ cũng sụt giảm tại các nền kinh tế phát triển chủ chốt và một số thị trường Châu Âu trong giai đoạn từ 31/12/2019 tới 29/2/2020, khi các nhà đầu tư e ngại rủi ro và các ngành công nghiệp địa phương giảm bớt hoạt động do tình trạng sức khỏe toàn cầu. Điều này dẫn tới những tổn thất của thị trường cổ phiếu trong khu vực, làm các đồng nội tệ suy yếu so với đồng đô la Mỹ, và nới rộng mức phí tham gia hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Tình trạng bán tháo trên thị trường, được nhận thấy tại một số thị trường trái phiếu khu vực trong tháng 1 và tháng 2, nhiều khả năng sẽ tiếp diễn.

Một số ngân hàng trung ương tại khu vực Đông Á mới nổi đã cắt giảm lãi suất để giảm thiểu tác động kinh tế của đại dịch Covid-19, bao gồm Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, Ngân hàng Trung ương Thái Lan, Ngân hàng Trung ương Indonesia, Ngân hàng Trung ương Philippines, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, Ngân hàng Trung ương Malaysia, Cục Quản lý tiền tệ Hồng Kông và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong tháng 3, Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã cắt giảm lãi suất hai lần, đưa lãi suất xuống gần bằng không, cùng với những biện pháp khác để hỗ trợ các thị trường tài chính.

Tổng dư nợ trái phiếu bằng đồng nội tệ đang lưu hành trên thị trường Đông Á mới nổi đạt 16 nghìn tỉ USD vào cuối tháng 12/2019, tăng 2,4% so với tháng 9/2019 và cao hơn 12,5% so với tháng 12/2018. Trong khi đó, tổng giá trị phát hành trái phiếu của khu vực đạt 1,44 nghìn tỉ USD trong quý 4/2019, giảm 9,5% so với tháng 9 cùng năm. Các thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của Hàn Quốc và Malaysia có tỉ lệ dư nợ trái phiếu trên tổng sản phẩm quốc nội cao nhất trong khu vực, lần lượt là 130,5% và 104,6%.

Tính tới cuối tháng 12/2019, tổng giá trị trái phiếu chính phủ đạt 9,8 nghìn tỉ USD, cao hơn 1,7% so với thời điểm tháng 9/2019. Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp đạt 6,2 nghìn tỉ USD, tăng 3,5% so với tháng 9 cùng năm. Thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của khu vực Đông Á mới nổi, chiếm 75,4% tổng giá trị của khu vực.

Ấn bản mới nhất của báo cáo Giám sát Trái phiếu Châu Á bao gồm bốn phần thảo luận, trong đó xem xét tác động kinh tế của đại dịch Covid-19 tới các nền kinh tế của Châu Á đang phát triển và những kênh cụ thể nơi tác động kinh tế có thể được nhận thấy; phản ứng của các thị trường cổ phiếu khu vực khi đại dịch Covid-19 tiếp tục lây lan; tầm quan trọng và tiềm năng của trái phiếu xanh như là nguồn vốn trong các giai đoạn căng thẳng thị trường; và tác động của các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị tới hoạt động danh mục đầu tư.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.350 23.560 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.350 23.540 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.380 23.550 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.380 23.550 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.360 23.580 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.365 23.565 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.410 23.540 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.550
48.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.550
48.400
Vàng SJC 5c
47.550
48.420
Vàng nhẫn 9999
45.100
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.700
45.800