CPI khó giữ được ở mức tăng dưới 4% trong năm 2022

09:05 | 16/05/2022

Sức ép lạm phát tiếp tục tăng và kéo dài trong năm 2022 bởi giá năng lượng, lương thực, thực phẩm tăng cao; tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu có thể kéo dài... có thể đẩy giá cả tăng cao.

cpi kho giu duoc o muc tang duoi 4 trong nam 2022

Tiến sỹ Trần Toàn Thắng, Trưởng ban Dự báo kinh tế ngành và doanh nghiệp (Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, lạm phát đã và đang đe dọa rất nhiều nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế lớn có liên quan đến cuộc xung đột ở Ukraine như EU, Mỹ, Anh..., khi mà lạm phát đã đạt mức cao nhất trong vòng 40 năm nay và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Nếu so sánh với các nước này, thì lạm phát ở Việt Nam hiện nay vẫn "rất ổn."

Cụ thể, CPI 4 tháng đầu năm nay tăng 2,1%, cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm 2021 (4 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 0,89%), nhưng vẫn là mức tăng thấp so với giai đoạn 2017-2020 (CPI 4 tháng đầu năm 2017 tăng 4,8% và 4 tháng đầu năm 2020 tăng 4,9%).

Tuy nhiên, từ nay đến cuối năm, nền kinh tế còn nhiều biến động, nên CPI khó giữ được ở mức tăng dưới 4%.

Tiến sỹ Trần Toàn Thắng cho biết, sau khi được giảm 50% thuế bảo vệ môi trường, giá bán lẻ mặt hàng xăng dầu giảm được vài lần, nhưng sau đó tăng liên tục.

Trong tháng 4/2021, giá xăng dầu giảm 2 lần và chỉ tăng 1 lần, nhưng CPI vẫn tăng 2,09% so với tháng 12/2021 và tăng 2,64% so với cùng kỳ năm 2021 do có tới 9/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng giá.

Giá xăng dầu tăng liên tục trong 3 lần điều chỉnh gần đây chắc chắn tác động rất lớn tới việc kiểm soát CPI. Nhìn vào CPI tháng 4/2021, có thể thấy rất rõ điều này: nhóm giao thông tăng tới 16,59% so với cùng kỳ năm 2021, làm CPI chung tăng 1,6 điểm phần trăm.

Hiện, giá bán lẻ xăng E5 đã lên đến 28.950 đồng/lít và xăng RON 95 đã áp sát 30.000 đồng/lít, là sự đe dọa tới việc kiểm soát lạm phát, nhất là đặt trong bối cảnh chiến sự ở Ukraine chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, EU và các nước phương Tây tiếp tục áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế ngày càng nặng nề với Nga.

Cùng với đó, là chính sách "zero COVID-19" của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc vẫn là công xưởng của thế giới, khi công xưởng tạm ngừng hoạt động, ngay lập tức, thị trường sẽ thiếu hàng hóa và giá hàng hóa sẽ tăng lên.

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, là thị trường cung cấp nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu đầu vào chủ yếu cho hoạt động sản xuất của nước ta. Đầu vào gặp khó không chỉ khiến giá cả tăng lên, mà còn tác động đến cả tốc độ tăng trưởng kinh tế, khi hoạt động chế biến, chế tạo bị ảnh hưởng tiêu cực.

Tiến sỹ Trần Toàn Thắng nhận định, sức ép lạm phát tiếp tục tăng và kéo dài trong năm 2022 bởi giá năng lượng, lương thực, thực phẩm tăng cao; tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu có thể kéo dài; các chính sách hỗ trợ như giảm thuế, phí… hết hiệu lực dẫn đến giá cả tăng trở lại; sự xuất hiện của các biến chủng virus Corona làm gia tăng mất cân bằng cung-cầu và đẩy giá lên cao…

Trong bối cảnh này, nền kinh tế đang phát triển và có mối quan hệ rất sâu rộng với Trung Quốc như Việt Nam, nếu giữ được lạm phát khoảng 4% đã là thành công rất đáng ghi nhận.

Để kiềm chế đà tăng giá của giá xăng dầu, theo ông Thắng, hiện có 4 sắc thuế đánh vào mặt hàng xăng dầu, Việt Nam mới chỉ giảm 50% thuế suất thuế bảo vệ môi trường. Do đó, Chính phủ cần nghiên cứu giảm các sắc thuế còn lại như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng như nhiều nước đã thực hiện. Còn việc trợ giá cho người tiêu dùng là khó, vì chưa có tiền lệ.

"Giải pháp tối ưu là giảm thuế nhập khẩu và xem xét giảm phí giao thông đường bộ bằng việc kéo dài thời gian hoàn vốn đối với các dự án BOT. Chi phí giao thông giảm sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động khác giảm được chi phí, kéo lùi tốc độ tăng CPI," ông Thắng nhận định.

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850