CPI tăng thấp, thêm thách thức cho Ngân hàng Trung ương Úc

15:45 | 30/10/2019

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Úc đã “hạ nhiệt” hơn nữa trong quý vừa qua, làm trầm trọng hơn thách thức mà ngân hàng trung ương của nước này (RBA) phải đối mặt để giữ lạm phát và lãi suất ở mức được coi là “bình thường”.

Melbourne - thị trường bất động sản hấp dẫn nhất Châu Á - Thái Bình Dương
Các NHTW Úc và New Zealand đang dẫn đầu cuộc đua xuống đáy
Khung cảnh tấp nập tại khu Centre Place, Melbourne, Úc

Lạm phát tổng thể chỉ tăng 0,5% trong quý III, phù hợp với dự báo của các nhà kinh tế nhưng đã giảm so với mức tăng 0,6% trong quý trước.

Dữ liệu từ Cơ quan Thống kê Úc (ABS), được công bố hôm nay (30/10), cũng cho biết CPI tháng 9/2019 tăng 1,7% so với cùng kỳ, như được kỳ vọng.

Lạm phát cơ bản, vốn là công cụ được theo dõi chặt chẽ, vẫn đang ở dưới mức mục tiêu 2-3% của ngân hàng trung ương và là quý thứ 15 liên tiếp ở tình trạng này - khoảng thời gian dài nhất kể từ khi số liệu được thống kê.

Nhóm thành phần có chỉ số giá giảm đáng kể nhất trong quý vừa qua là nhiên liệu ô tô và rau quả. Trong khi đó, do trùng với dịp lễ quốc tế, CPI nhóm hàng thuốc lá và dịch vụ chăm sóc trẻ em lại có mức tăng cao nhất.  

Bên cạnh đó, chỉ số giá quý III cho các dịch vụ tiện ích và nhà ở mua mới đều giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi cho thuê nhà ở chỉ ghi nhận một mức tăng nhỏ.

“Lạm phát năm bị đè nén một phần do mức tăng giá của chi phí liên quan đến dịch vụ nhà ở vẫn ở mức thấp, và trong một số trường hợp giảm so với cùng kỳ năm trước”, Bruce Hockman, nhà kinh tế trưởng tại ABS, cho biết.

Trong nỗ lực phục hồi lạm phát và tăng trưởng kinh tế chậm lại, Ngân hàng Trung ương Úc (RBA) đã cắt giảm lãi suất 75 điểm cơ bản từ tháng 6, hiện xuống mức thấp nhất từ trước đến nay là 0,75%.

Lãi suất cho vay thấp hơn trong vài tháng qua đã giúp thúc đẩy thị trường nhà đất - sau giai đoạn giảm nhẹ từ năm 2017 tới đầu năm nay.

Nhưng điều đó vẫn chưa có tác động đến dữ liệu kinh tế của chính phủ.

Trong quý thứ ba của năm, một trong những thước đo lạm phát được ưa thích của RBA - lạm phát bình quân loại trừ các nhân tố đột biến - chỉ tăng 0,4% so với cùng kỳ, không thay đổi so với quý trước. Còn so với cùng kỳ, mức lạm phát tháng 9 chỉ giữ tăng 1,6%, thấp hơn mục tiêu 2-3% của RBA.

Hai thước đo chính của lạm phát cơ bản - trung bình loại trừ và trung bình có trọng số - cũng ở dưới ngưỡng mục tiêu của RBA, ở quanh mức tăng khoảng 1,4% trong tháng 9.

Đại Hùng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000