Củng cố nguồn lực, tăng sức đề kháng

07:22 | 18/11/2021

Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú khẳng định, NHNN sẽ tạo điều kiện để mở rộng tín dụng nếu nền kinh tế cần thiết, song không đặt ra vấn đề giảm điều kiện tiếp cận tín dụng, tiêu chuẩn tiếp cận tín dụng để bảo đảm an toàn.

Gia tăng trích lập dự phòng

Đại dịch Covid-19 đã làm đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng, đẩy nợ xấu tại ngân hàng có xu hướng gia tăng. Điều đó thể hiện rõ qua báo cáo tài chính quý III và 9 tháng năm 2021 của nhiều ngân hàng.

Tuy nhiên theo các chuyên gia, những con số nợ xấu hiện tại vẫn chưa phản ánh hết bức tranh nợ xấu do hiện không ít khoản nợ đang được các ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo tinh thần của Thông tư 01/2020/TT-NHNN, Thông tư 03/2021/TT-NHNN và Thông tư 14/2021/TT-NHNN. Tại phiên thẩm tra về tình hình kinh tế - xã hội của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội cuối tháng 9 vừa qua, lãnh đạo NHNN cho biết, nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn cuối năm nay dự kiến ở mức từ 7,1%-7,7%, xấp xỉ 8%.

cung co nguon luc tang suc de khang
Ngân hàng ghi nhận mức trích lập dự phòng tăng mạnh trong quý III/2021

Trong bối cảnh nợ xấu tăng và đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, các ngân hàng đều đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro. Chẳng hạn như Vietcombank, trong 9 tháng đầu năm nhà băng này đã trích lập 8.013 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro, tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó chi phí dự phòng của riêng quý III là 2.513 tỷ đồng, tăng 25%. Hiện tỷ lệ bao phủ nợ xấu của Vietcombank là 243%.

Tương tự, 9 tháng đầu năm 2021 BIDV cũng trích lập dự phòng tới 23.195 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ; trong khi tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối tháng 9 của ngân hàng này chỉ ở mức 1,39%, giảm 0,15% so với đầu năm.

Chi phí dự phòng rủi ro 9 tháng của VietinBank cũng tăng 22% so với cùng kỳ lên 14.004 tỷ đồng. Tại ĐHĐCĐ bất thường mới đây của VietinBank, Chủ tịch HĐQT VietinBank Trần Minh Bình cho biết, ngân hàng sẽ tăng tỷ lệ bao phủ nợ xấu từ mức 119% hồi cuối tháng 9 lên mức 169% trong những tháng cuối năm; đồng thời chi phí trích lập dự phòng rủi ro cũng tăng từ mức 14.000 tỷ đồng lên khoảng 17.000 tỷ đồng.

Hàng loạt nhà băng ở khối NHTMCP tư nhân cũng ghi nhận mức trích lập dự phòng tăng mạnh. Chẳng hạn như ACB, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong 9 tháng đầu năm cao gấp bốn lần so với cùng kỳ năm trước, ở mức 2.812 tỷ đồng. Hay như LienVietPostBank lũy kế trích lập dự phòng rủi ro tín dụng sau 9 tháng là 887 tỷ đồng, tăng 176% so với cũng kỳ năm trước. Cùng thời điểm TPBank cũng tăng gần gấp đôi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng so với cùng kỳ, đạt gần 2.349 tỷ đồng…

Nợ xấu tăng là điều đã được giới chuyên gia dự báo từ sớm trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn vì dịch bệnh. Vì thế việc các ngân hàng tăng trích lập dự phòng rủi ro là điều cần thiết để có nguồn lực xử lý nợ xấu. Cũng chính bởi vậy, các ngân hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ để hỗ trợ khách hàng, song vẫn phải trích lập phần dự phòng rủi ro cụ thể bổ sung trong vòng 3 năm.

Đảm bảo sức khoẻ cho ngân hàng

Nợ xấu tăng tất yếu sẽ tác động rất lớn tới hoạt động của các ngân hàng. Liên quan tới giải pháp ứng phó với nguy cơ nợ xấu gia tăng, ông Nguyễn Trọng Du - Phó Chánh Thanh tra, Cơ quan Thanh tra Giám sát ngân hàng cho rằng, cơ chế chính sách được ban hành cần sửa đổi kịp thời, phù hợp nhất hỗ trợ cho khách hàng vượt qua đại dịch Covid-19 song cũng phải lường tới những khó khăn hệ thống ngân hàng phải đối diện. Mục tiêu quan trọng là phải đảm bảo có nguồn xử lý được những khoản nợ trong trường hợp khi đến hạn chưa trả được nợ sau khi đã cơ cấu. Bên cạnh đó, NHNN luôn chỉ đạo TCTD tăng cường trích lập dự phòng rủi ro; khuyến khích các TCTD chia cổ tức bằng cổ phiếu, để chắt chiu nguồn lực hỗ trợ cho quá trình xử lý đối với trường hợp có nợ xấu gia tăng.

Tín dụng lâu nay vẫn là mảng kinh doanh chủ đạo của các nhà băng, một ngân hàng truyền thống thông thường sẽ có khoảng 70 - 80% thu nhập từ tín dụng. Tác động mạnh từ Covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn Ngành, từ đó ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của các ngân hàng. Chưa kể việc gia tăng trích lập cũng “ăn” vào lợi nhuận của các ngân hàng. Nhưng trong bối cảnh khó khăn hiện nay, một chuyên gia tài chính - ngân hàng chia sẻ, chất lượng tín dụng càng không thể chủ quan được.

NHNN đã rất nhiều lần nhấn mạnh với các NHTM việc mở rộng tín dụng phải đi đôi với đảm bảo chất lượng tín dụng, kiểm soát tín dụng vào những lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán. Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú khẳng định, NHNN sẽ tạo điều kiện để mở rộng tín dụng nếu nền kinh tế cần thiết, song không đặt ra vấn đề giảm điều kiện tiếp cận tín dụng, tiêu chuẩn tiếp cận tín dụng để bảo đảm an toàn. Bởi theo Phó Thống đốc, những quyết định dễ dãi của hôm nay rất có thể sẽ khiến chúng ta phải trả giá đắt trong tương lai.

TS. Nguyễn Trí Hiếu nhận thấy, bản thân các ngân hàng cũng ngày càng có ý thức rõ rệt hơn về việc nâng cao tiềm lực tài chính, nâng cấp khả năng quản trị của mình. Việc áp dụng tiêu chuẩn Basel II đang được phủ rộng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Đáng mừng là trong đó, nhiều nhà băng đã mạnh dạn tiến tới Basel III. Mới đây nhất, TPBank đã công bố hoàn thành toàn bộ các yêu cầu của Basel III, IFRS 9 và sẽ triển khai toàn diện ngay từ quý IV/2021. Đây là nhà băng đầu tiên trong hệ thống đạt được những tiêu chuẩn này tại thị trường Việt Nam. Basel III không chỉ là một tiêu chuẩn trong quản trị rủi ro, mà còn là sự khẳng định của một ngân hàng về chất lượng tài sản, khả năng chống chịu trước những rủi ro.

Tổng Giám đốc TPBank Nguyễn Hưng chia sẻ, Basel III là yêu cầu rất cao, và đặt ra áp lực rất lớn đối với bản thân ngân hàng vì các tiêu chuẩn sẽ ngày càng khắt khe hơn. Triển khai Basel III đồng nghĩa ngân hàng phải duy trì một lượng vốn dự phòng dày dặn hơn, song thanh khoản của ngân hàng sẽ được đảm bảo, gia tăng sức chống chịu trước các biến động của thị trường. Vị thế và uy tín của ngân hàng cũng nhờ đó mà được tăng lên, dễ dàng tiếp cận và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

Minh Khôi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700