Đà giảm tốc của kinh tế Singapore sắp kết thúc

12:00 | 25/10/2019

Người đứng đầu Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore (MAS) Singapore Ravi Menon cho biết trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Bloomberg mới đây rằng, có thể chỉ một vài quỹ nữa là nền kinh tế Singapore sẽ phục hồi vì sự suy giảm trong thương mại và sản xuất trong năm nay đã không lan rộng sang các lĩnh vực khác.

Quan điểm cơ bản của MAS là “chu kỳ hiện tại sẽ chạm đáy vào cuối năm nay và đầu năm tới”, Giám đốc điều hành MAS Ravi Menon cho biết và nói thêm rằng: Điều đó dựa trên giả định rằng sự sụt giảm chỉ diễn ra trong lĩnh vực thương mại và sản xuất công nghiệp.

Ảnh minh họa

Nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu của Singapore đã chứng kiến sự suy giảm mạnh hơn trong nửa cuối năm nay trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có chiều hướng leo thang, trong khi đây là hai trong số các đối tác thương mại lớn nhất của Singapore. Thủ tướng Lý Hiển Long tuần trước cho biết, “sẽ là may mắn” nếu Singapore đạt được tăng trưởng dương trong năm nay.

MAS dự kiến kinh tế Singapore sẽ tăng trưởng ở giữa khoảng dự báo chính thức 0% -1% trong năm nay, sau đó cải thiện khiêm tốn vào năm 2020. Trong khi lạm phát lõi được dự báo sẽ ở cận dưới của khoảng dự báo 1-2% trong 2019 và bình quân 0,5-1% trong 2020. “Đây không phải là một sự hồi phục mạnh mẽ”, Menon nói. Theo ông, khoảng cách sản lượng (chênh lệch giữa GDP thực tế và GDP tiềm năng) âm dự kiến sẽ không mở rộng mặc dù có những rủi ro có thể xảy ra.

Lâu nay, Singapore và nhiều nền kinh tế châu Á khác đã cho thấy khả năng phục hồi nhờ vào các ngành dịch vụ và nhu cầu trong nước. Cho đến nay, “sự chậm lại chỉ tập trung” vào thương mại và sản xuất, Menon nói. “Điều đó không có nghĩa là nó không thể lan tỏa sang các phần khác của nền kinh tế. Đó là một rủi ro mà chúng tôi nghiêm túc tính đến. Nhưng đến nay vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy điều đó sẽ xảy ra”.

Để hỗ trợ nền kinh tế MAS đã thực hiện nới lỏng chính sách lần đầu tiên sau 3 năm vào đầu tháng này. Menon cũng nói với truyền hình Bloomberg rằng, MAS vẫn còn nhiều dư địa chính sách và sẵn sàng nới lỏng thêm nếu cần thiết. MAS hiện vẫn sử dụng tỷ giá hối đoái làm công cụ chính sách chính của mình. Theo đó, MAS định hướng tỷ giá đồng đôla Singapore so với một rổ tiền tệ và điều chỉnh tốc độ tăng/giảm giá của đồng nội tệ bằng biên độ biên độ dao động tỷ giá. Hôm 14/10 đã quyết định giảm nhẹ mức tăng trong biên độ biến động của tỷ giá đồng đôla Singapore.

Hiện nhiều NHTW trên khắp thế giới đang tìm cách hỗ trợ nền kinh tế của họ, thậm chí sử dụng các công cụ chính sách khác thường như lãi suất âm và nới lỏng định lượng khi đã hết dư địa chính sách. Trong khi MAS sử dụng tỷ giá làm công cụ chính sách chính nên không bị ràng buộc bởi mức lãi suất bằng 0 như các NHTW khác. “MAS có không gian chính sách khá lớn trên mặt trận tiền tệ nên không phải suy nghĩ về QE”, Menon nói và cho biết: “Chúng tôi có thể, nếu cần thiết, sẽ đưa tỷ giá hối đoái về 0 như chúng tôi đã từng làm. Trước đây, chúng tôi chưa bao giờ cố tình phá giá tiền tệ, nhưng chúng tôi luôn có thể điều chỉnh biên độ đi xuống”.

Menon bày tỏ quan ngại khi có những “kỳ vọng phi thực tế” đặt lên vai các NHTW toàn cầu trong việc đưa nền kinh tế của họ thoát khỏi mọi khó khăn. “Cần phải có sự cân bằng tốt hơn giữa chi tiêu của Chính phủ và kích thích tiền tệ”, ông nói, nhắc lại suy nghĩ của không ít các nhà giám đốc tài chính toàn cầu tại cuộc họp thường niên của IMF diễn ra cuối tuần trước tại Washington. “Không thể giải quyết mọi sự chậm lại, mọi rủi ro hoặc các mỗi đe dọa trong tương lại bằng cách nới lỏng CSTT”, Menon nói và nhấn thêm: CSTK cần có vai trò mạnh mẽ hơn.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080