Da giày Việt chưa tận dụng hết cơ hội

12:00 | 25/03/2019

Các chuyên gia cho rằng, các DN trong ngành da giày cần tăng tỷ trọng xuất khẩu bằng mở rộng thị trường, sử dụng công nghệ mới, nguyên liệu thân thiện môi trường để có thể mở rộng thị phần ở các thị trường khó tính. Đồng thời, cần nỗ lực gia tăng năng lực cạnh tranh của mình để nắm bắt các cơ hội.

Cần hỗ trợ thương hiệu da giày Việt
Ngành da giày “chuyển mình” nắm thời cơ
Xuất khẩu da giày giữ vững tốc độ tăng trưởng

Cơ hội rộng mở

Phát biểu tại Hội nghị quốc tế xúc tiến xuất khẩu ngành da giày dệt may 2019 vừa diễn ra hôm 20/3 tại TP.HCM, ông Diệp Thành Kiệt - Phó chủ tịch Hiệp hội Da giày Túi xách Việt Nam (Lefaso) nhận định, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về sản lượng xuất khẩu giày dép ra thị trường thế giới với khoảng hơn 1 tỷ đôi các loại mỗi năm. Tuy nhiên, xét về dài hạn từ nay đến năm 2025, so với Trung Quốc, ngành da giày Việt Nam vẫn còn cạnh tranh tốt cả về chi phí lao động, thu nhập trên đầu người, chính sách kinh tế và thị trường xuất khẩu.

Sở dĩ như vậy là do Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm ưu đãi đầu tư trong các lĩnh vực dệt may và da giày, để tập trung cho các ngành công nghệ cao, nên các đơn hàng gia công da giày, túi xách sẽ tiếp tục xu hướng dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam, tận dụng cơ hội từ CPTPP đã có hiệu lực từ ngày 31/12/2018 và EVFTA dự kiến ký kết và có hiệu lực trong năm 2019.

Mặt khác, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung cũng sẽ thúc đẩy làn sóng dịch chuyển đầu tư ra khỏi Trung Quốc để tránh tác động xấu từ cuộc chiến thương mại này. Trong khi Việt Nam, với nhiều lợi thế, được dự báo sẽ là một điểm đến được ưa thích.

Theo các chuyên gia, CPTPP và EVFTA có thể đem lại những cơ hội lớn cho ngành da giày Việt Nam phát triển, giúp các DN giảm chi phí đầu vào, tiếp cận công nghệ mới dễ dàng hơn, tăng năng suất và duy trì thị phần ở Mỹ, EU và Nhật. Theo tính toán của các chuyên gia, nếu FTA Việt Nam-EU được thông qua trong năm nay, và việc tiếp cận thị trường Mỹ tốt hơn, mức tăng trưởng xuất khẩu giày da của Việt Nam sẽ đạt khoảng 15% và kim ngạch xuất khẩu sẽ là trên 22 tỷ USD. Trong đó, giày mũi vải, có chất liệu vải tăng trưởng mạnh nhất.

Tận dụng thế nào?

Mặc dù được dự báo sẽ là điểm đến trong làn sóng dịch chuyển đầu tư ra khỏi Trung Quốc, thế nhưng trên thực tế thay vì chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam thì họ lại đang chuyển sang Indonesia. Đó là vấn đề mà theo giới chuyên môn, các DN cần phải hết sức lưu tâm.

“DN Việt cần phải nắm rõ chính sách hỗ trợ của Chính phủ, lợi thế 55% dân số trong độ tuổi lao động, luật đầu tư nước ngoài sẽ được sửa đổi theo hướng cởi mở hơn… để làm việc với đối tác, tìm cơ hội hợp tác, mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Đáng tiếc là việc nắm bắt xu hướng chuyển dịch của sản xuất, thị trường, nắm và vận dụng hiệp định thương mại, chính sách hỗ trợ của nhà nước lại đang là điểm yếu của DN Việt”, một chuyên gia khuyến nghị.

Trong khi theo ông Diệp Thành Kiệt, mặc dù các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới sẽ mở ra những cơ hội to lớn cho các DN da giày, tuy nhiên không phải DN nào cũng tận dụng được những cơ hội này. Trong khi đó, các Hiệp định này cũng đặt ra trước các DN da giày không ít khó khăn thách thức.

Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền - Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), so với các FTA Việt Nam đã ký và tham gia, Quy tắc xuất xứ hàng hóa CPTPP có một số điểm mới như: Quy tắc xuất xứ bộ hàng hóa; Quy tắc xuất xứ hàng tân trang, hàng tái chế tạo; công thức tính RVC; danh mục PSR được quy định chi tiết theo công đoạn sản xuất cụ thể…

Trong khi hiện mức độ ứng dụng công nghệ trong quản lý và sản xuất của ngành da giày Việt còn thấp, năng suất lao động chỉ bằng 60-70% so với DN FDI. Nhiều DN trong nước chưa tham gia được nhiều vào chuỗi cung ứng toàn cầu do phần lớn chỉ làm gia công, chỉ 30% DN thực hiện FOB, rất ít DN trong nước có trung tâm nghiên cứu phát triển sản phẩm, lại thường không tự chủ được nguyên liệu - thiết kế mẫu, chi phí lao động ngày càng tăng cao. Bên cạnh đó, các DN trong ngành còn đang phải đối mặt với nhiều thách thức bên ngoài như việc bảo hộ thương mại từ các quốc gia ngày càng tăng cao.

Bởi vậy, giới chuyên gia cho rằng, các DN trong ngành cần tăng tỷ trọng xuất khẩu bằng mở rộng thị trường, sử dụng công nghệ mới, nguyên liệu thân thiện môi trường để có thể mở rộng thị phần ở các thị trường khó tính… Tuy nhiên, theo ông Diệp Thành Kiệt, để khắc phục điểm yếu, nâng cao năng lực cạnh tranh thì phải 70% từ bản thân DN, 20% từ chính sách, 10% từ tác động của các tổ chức đại diện, như là hiệp hội...

Minh Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900