Đà Nẵng: 6 tháng đầu năm không có dự án căn hộ mới chào bán

15:35 | 28/07/2022

Nửa đầu năm nay, Đà Nẵng không ghi nhận dự án mới lần đầu chào bán và nguồn cung mới đến từ giai đoạn mở bán tiếp theo. Tổng nguồn cung tại Đà Nẵng hiện là 7.378 căn từ 20 dự án.

Theo CBRE Việt Nam, ngay cả trong thời kỳ dịch bùng phát, giai đoạn 2020-2021, thị trường vẫn có thêm một số dự án được ra mắt. Giá sơ cấp trung bình thị trường đang ở mức 1.475 USD/m2 thông thủy và tăng trưởng ở mức CAGR 2019-2021 là 8%/năm.

Xét theo phân hạng, giá bán sơ cấp căn hộ cao cấp, trung cấp và trung bình lần lượt là gần 2.100 USD, 1.300 USD và 650 USD/m2 thông thủy. Trong đó, phân hạng căn hộ cao cấp tăng cao nhất với CAGR 2019-2021 ở mức 6%/năm, chủ yếu nhờ 2 dự án mới The 6 Nature và The Sang Residence được chào bán cao hơn so với phổ giá các dự án cùng hạng tại Đà Nẵng.

da nang 6 thang dau nam khong co du an can ho moi chao ban

Phân khúc căn hộ bình dân không có nhiều biến động về giá. Giá bán căn hộ trung cấp có xu hướng giảm nhẹ do dự án FPT Plaza 2 mở bán số lượng căn lớn (700 căn) với mức giá thấp hơn tương đối so với các dự án cùng hạng. Tỷ lệ bán hàng lũy kế tính đến thời điểm hiện tại đạt 92%.

Trong 3 năm trở lại đây, thị trường tuy có thêm nguồn cung mới nhưng số lượng căn và dự án không tăng đột biến, do đó không dẫn đến tình trạng bội thực nguồn cung và giúp đảm bảo tỷ lệ hấp thụ ổn định.

Trong 3 năm tiếp theo, thị trường căn hộ bán Đà Nẵng được kỳ vọng tăng tốc phát triển, với nguồn cung mới từ 10 dự án cung cấp 5.600 căn hộ, ghi nhận mức tăng trưởng CAGR 2021-2024 là 22%/năm. Căn hộ hạng sang sẽ dẫn dắt nguồn cung, nhờ vậy, mặt bằng giá sơ cấp đạt tốc độ tăng trưởng CAGR 2021-2024 tích cực là 12%/năm.

Bà Đặng Phương Hằng cho biết, thị trường căn hộ bán sẽ được tái định vị trong giai đoạn tới, với xu hướng phát triển căn hộ ven sông đang dần phổ biến tại Đà Nẵng. Đây là những dự án mang tính biểu tượng, đồng thời cung cấp dịch vụ sống đẳng cấp.

Đối với thị trường bất động sản liền thổ Đà Nẵng, trong 6 tháng đầu năm 2022, thị trường bất động sản liền thổ có thêm một dự án mới, Sunneva Island, mở bán lần đầu trong quý II/2022 với 106 sản phẩm gồm biệt thự và nhà phố. Giai đoạn mở bán tiếp theo của dự án Regal Pavillion đóng góp thêm 34 căn nhà phố thương mại. Tổng nguồn cung hiện nay là 1.624 sản phẩm (biệt thự ở, nhà phố, nhà phố thương mại) từ 11 dự án.

Với thị trường bất động sản liền thổ, từ năm 2019-2021, hạng mục biệt thự và nhà phố không có thêm nguồn cung mới nên giai đoạn này giá bán sơ cấp gần như không thay đổi, lần lượt neo ở mức gần 3.330 USD và 3.450 USD/m2.

Bước sang nửa đầu năm nay, nguồn cung mới biệt thự và nhà phố từ dự án Sunneva Island góp phần đẩy giá sơ cấp trung bình hai hạng mục này lên mức cao hơn, lần lượt chạm mức 3.780 USD và 3.900 USD/m2 Đất. Riêng đối với hạng mục nhà phố thương mại, năm 2021, dự án Regal Pavillion lần đầu ra mắt với mức giá cao, hơn 6.500 USD/m2, nâng mặt bằng giá phân khúc này tăng gấp đôi so với mức ghi nhận tại năm 2019.

Nguồn cung bất động sản liền thổ tại Đà Nẵng không tăng đột biến trong nhiều năm, nhờ vậy, tỷ lệ hấp thụ lũy kế toàn thị trường duy trì ở mức khả quan 92% tính đến thời điểm hiện tại. Dự án mới trong nhiều năm trở lại đây nhận được sự quan tâm tích cực từ giới đầu tư nhờ định vị cao cấp và được phát triển bởi các đơn vị chủ đầu tư uy tín.

Theo bà Hằng, trong giai đoạn tiếp theo, số lượng dự án tương lai mới tuy vẫn khá ít nhưng có sự đa dạng về hạng mục sản phẩm, giúp nhà đầu tư có thêm nhiều lựa chọn, từ đó thúc đẩy hoạt động giao dịch. Đà Nẵng đang đẩy mạnh xây dựng các khu đô thị ven sông, không chỉ khai thác lợi thế cảnh quan sẵn có mà còn đặc biệt chú trọng phát triển theo hướng chuẩn chỉnh hơn.

Nguồn cung tương lai bất động sản liền thổ đều sở hữu vị trí đắc địa, được đầu tư quy hoạch bài bản và chào bán ở mức giá khá cao. Theo đó, mặt bằng giá sơ cấp trung bình sẽ được cải thiện rõ nét và tăng trưởng tại CAGR 2021-2024 là 9%/năm.

Bà Hằng cho biết, nhiều chủ đầu tư đã đổ bộ về đây và phát triển các dự án khu đô thị, khu nghỉ dưỡng phức hợp, nhằm đón đầu làn sóng dịch chuyển của bộ phân cư dân chất lượng cao về đây, trong đó phải kể đến nhóm chuyên gia nước ngoài làm việc tại các cụm công nghiệp. Phía Đông Nam Đà Nẵng lại sở hữu kết nối liên vùng với khu vực Quảng Nam, có thể hình thành dải đô thị - du lịch ven biển.

Do đó, khu vực này được định hướng sẽ phát triển các khu đô thị du lịch - sinh thái, nhất là vị trí dọc ven sông Cổ Cò nhằm khai thác lợi thế cảnh quan. Điểm hạn chế hiện hữu của hai khu vực Tây Bắc và Đông Nam là thiếu hệ thống tiện ích phụ trợ cũng như cần có thêm cải thiện về mặt hạ tầng (khơi thông dòng sông Cổ Cò) để tối ưu hóa tiềm năng phát triển.

Sỹ Thảo

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.245 23.545 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.280 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.259 23.545 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.150
53.050
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.650