Đà Nẵng: Nhà phố kinh doanh dịch vụ không bao giờ “lỗi mốt”

07:43 | 18/09/2019

Giới chuyên gia và những nhà đầu tư địa ốc ở Đà Nẵng vẫn lạc quan vào nội lực và tiềm năng đi lên của thị trường...

Trung tâm của địa ốc Đà thành giờ đây được định vị là những sản phẩm bất động sản nằm ở dải Đông Nam, thuộc phân khúc nhà phố có giá trị tích lũy dài hạn và sở hữu khả năng kinh doanh dịch vụ - ngành hàng không bao giờ “lỗi mốt” ở thiên đường du lịch này.

Giá đất Đà Nẵng còn dư địa tăng trưởng

CBRE vừa công bố báo cáo thị trường bất động sản Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm, theo đó giá bán biệt thự nghỉ dưỡng tại các dự án hạng sang được chào giá 4.459 USD mỗi m2, tương đương hơn 104 triệu đồng mỗi m2. Đối với các dự án cao cấp, biệt thự biển được chào giá 2.268 USD mỗi m2 và phân khúc trung cấp đạt 1.167 USD mỗi m2.

Phân khúc biệt thự nghỉ dưỡng ở Đà Nẵng đang tăng trưởng chậm do nguồn cung hạn chế. Hàng cũ đã bán hết, rổ hàng mới rất ít. Phân khúc căn hộ cũng khan hiếm không kém khi từ cuối tháng 6/2018 đến cuối tháng 6/2019, thị trường ghi nhận không có thêm dự án căn hộ bán nào. Hiện khung pháp lý cho condotel vẫn chưa rõ ràng, nên giới đầu tư vẫn khá dè dặt.

Trong bối cảnh đó, mọi chú ý đổ dồn vào phân khúc đất nền, nhà phố ở những dự án đảm bảo pháp lý rõ ràng, minh bạch. Với chủ trương mở rộng trung tâm phát triển đô thị về phía Đông Nam và Tây Bắc, đất đai ở các khu vực này đang được đánh giá giàu tiềm năng. Đặc biệt là phía Đông Nam thành phố với lợi thế gần biển, có sông Cổ Cò kết nối Đà Nẵng – Hội An đang được thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam hợp sức đầu tư để thông luồng toàn tuyến trước tháng 9/2020.

Theo ông Nguyễn Đức Lập, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đào tạo bất động sản, thị trường bất động sản Đà Nẵng đã có hơn 20 năm phát triển, nội lực của thị trường đã rất bền vững nhờ được cộng hưởng bởi các yếu tố như sự phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, cơ sở hạ tầng giao thông...

Trong khi đó, thị trường tại nhiều nơi khác vẫn được đánh giá là ở “thời kỳ mới nổi”, còn "chưa có gì", dân cư thưa thớt, giao thông chưa phát triển mà giá bất động sản hiện đã tăng rất mạnh. Khu Nhơn Hội, Quy Nhơn giá đất đã ở mức 18 triệu đồng/m2, bằng 2/3 so với giá đất tại khu Hoà Xuân, Đà Nẵng. Xét các ưu thế về điều kiện phát triển, giá nhà đất Đà Nẵng vẫn ở mức khá tốt so với các địa phương khác chứ chưa phải cao.

Vì thế, đất nền, nhà phố Đà Nẵng vẫn còn dư địa tăng giá, nhất là ở những vị trí có khả năng kinh doanh dịch vụ du lịch, nằm tại trung tâm phát triển đô thị mới như phía Đông Nam thành phố.

Âm thầm cuộc đua sở hữu nhà phố

Sau những thăng trầm thời gian qua, giới đầu tư địa ốc đã “cạch mặt” những dự án đất nền “ảo”, dự án “ma”, mua vì đồn thổi. Thị trường bất động sản Đà thành cũng đã được thanh lọc, chỉ những nhà đầu tư uy tín, dự án đủ giấy tờ pháp lý mới có khả năng tồn tại.

Một nhà môi giới địa ốc lâu năm ở Đà Nẵng cho hay: xu hướng đầu tư đang chuyển từ đất nền sang nhà phố. Phân khúc nhà phố được giới đầu tư ưa chuộng bởi sự an nhàn, không phải lo thi công xây dựng. Sở hữu nhà phố hoàn thiện mặt ngoài ở các trục đường lớn hoặc ven sông để đầu tư kinh doanh dịch vụ du lịch đang âm thầm trở thành cuộc đua mới ở thị trường Đà Nẵng.

Lướt sóng kiếm lời gần như không còn được ưa chuộng ở thành phố sông Hàn. Giới đầu tư đang quan tâm tới những bất động sản đem lại giá trị tích lũy, gia tăng giá trị lâu dài. Như tại khu đô thị ven sông Nam Hòa Xuân – một dự án nằm ở tâm điểm khu vực Đông Nam Đà Nẵng, nhà phố mặt đường lớn Nguyễn Phước Lan kéo dài và nhà phố ven sông, gần khu danh thắng Ngũ Hành Sơn được săn đón suốt thời gian qua, bất chấp cả tháng Ngâu.

Tính ra ở khu Đông Nam Đà Nẵng, dự án khu đô thị ven sông Nam Hòa Xuân có vị trí đắc địa ít thấy khi chỉ cách bờ biển, bãi tắm công cộng Sơn Thủy khoảng 1 km. Quy hoạch hạ tầng đồng bộ, bài bản, cách trung tâm thành phố 5 phút chạy xe, lại nằm ở khu vực có tiềm năng phát triển du lịch đường sông trong tương lai gần, nhà phố Nam Hòa Xuân không chỉ sở hữu khả năng tăng giá, mà còn có thể trở thành các cửa hàng kinh doanh dịch vụ đa dạng, hoặc các mini hotel, homestay hút khách…

Trong cuộc đua sở hữu nhà phố, điều lo ngại nhất của giới đầu tư là số lượng nhà phố ven sông, bên đường lớn của các chủ đầu tư uy tín rất hạn chế. Đây cũng là lý do khiến nhiều người sớm dự đoán: những nhà phố có vị trí tốt như ở Nam Hòa Xuân sẽ nhanh chóng khan hàng. Cũng giống như phân khúc biệt thự nghỉ dưỡng hiện nay, khan hàng ắt giá sẽ đắt đỏ, thậm chí không chủ sở hữu nào muốn chuyển nhượng.

PV

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.175 23.355 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.145 23.335 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.160 23.330 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.155 23..365 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.150 23.350 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.180 23.340 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.190 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050