Đa số công ty lớn của Mỹ đánh giá lãi suất đang hợp lý

11:19 | 14/05/2019

Trên toàn cầu có 69% số giám đốc tài chính (CFO) được khảo sát cho biết lãi suất đang phù hợp; 24% cho biết lãi suất đang quá thấp; và chỉ 4% cho rằng lãi suất là quá cao.

Bên cạnh nguyên nhân cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tác động lên các thị trường tài sản, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng hành động của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) cũng là nhân tố dẫn đến sự giảm giá, hoặc lên giá của thị trường cổ phiếu.

Nhưng, bản thân thị trường - với các công ty giao dịch công khai hàng nghìn tỷ USD giá trị cổ phiếu - lại không đồng quan điểm với việc cắt giảm lãi suất tiếp theo của Fed, như kết quả một khảo sát gần đây của CNBC cho thấy.

Thậm chí, không một giám đốc tài chính (CFO) tại công ty lớn nhất có trụ sở tại Mỹ nào đồng ý với việc thúc đẩy Tổng thống Trump hối thúc Fed cắt giảm lãi suất, trong khi chỉ có 4% CFO trên toàn cầu đồng quan điểm với Trump rằng cần cắt giảm lãi suất.

 

Hội đồng CFO toàn cầu của CNBC đại diện cho một số công ty công và tư lớn nhất thế giới, cùng nhau quản lý gần 5 nghìn tỷ USD giá trị thị trường trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Cuộc khảo sát quý II/2019 với 45 thành viên của hội đồng cho kết quả trên toàn cầu có 69% CFO cho biết lãi suất đang phù hợp, tỷ lệ 24% cho biết lãi suất đang quá thấp; và chỉ 4% cho rằng lãi suất là quá cao.

69% CFO cho biết lãi suất đang phù hợp

Tỷ lệ CFO dự kiến ​​Fed sẽ không có hành động nào đối với lãi suất trong phần còn lại của năm 2019 tăng vọt từ 30% trong quý I lên 69% trong quý II. Tỷ lệ phần trăm vẫn mong đợi một lần tăng lãi suất đã giảm từ hơn 40% xuống 22%, trong khi chỉ có 2% CFO cho biết họ nghĩ rằng việc cắt giảm lãi suất sẽ đến trước cuối năm nay.

Tỷ lệ dự báo Fed sẽ không điều chỉnh lãi suất tăng cao trong quý II/2019.

Đáng chú ý là các CFO được khảo sát đã nâng triển vọng của kinh tế Trung Quốc từ tình trạng tăng trưởng giảm dần lên mức ổn định trong cuộc khảo sát quý II. Tuy nhiên, họ cũng nói rằng việc chấm dứt thuế quan là không cần thiết để kết thúc cuộc chiến thương mại.

Chỉ có 10% CFO có trụ sở tại Hoa Kỳ cho rằng cuộc chiến thương mại là rủi ro lớn nhất mà doanh nghiệp của họ phải đối mặt. Nhưng nhiều hơn (15%) đã nói rằng chính Trung Quốc là yếu tố rủi ro bên ngoài lớn nhất của họ.

15% CFO nói rằng chính Trung Quốc là yếu tố rủi ro bên ngoài lớn nhất của họ.

Một trong những yếu tố đầu vào phức tạp nhất đối với chính sách của Fed là lạm phát, vốn đang chạy dưới mức mục tiêu 2% của Fed, nhưng gần đây, Chủ tịch Fed Jerome Powell đã mô tả là một loại lạm phát thấp tạm thời.

Vào sáng thứ Sáu, Trump đã tweet giữa các cuộc họp thương mại với Trung Quốc tại D.C. và việc phát hành dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng mới nhất, thực sự tốt, lạm phát rất thấp! Chúng tôi đang có một cơ hội tuyệt vời!

Giá tiêu dùng của Mỹ đã tăng trong tháng 4, nhưng lạm phát cơ bản vẫn đứng im, biểu hiện đưa đến dự báo Cục Dự trữ Liên bang có thể giữ lãi suất hiện tại trong một thời gian nữa.

Mỹ tăng thuế đối với 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc Mỹ tăng thuế đối với 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc
Những vũ khí Trung Quốc có thể dùng với Mỹ Những vũ khí Trung Quốc có thể dùng với Mỹ
Cuộc chiến thương mại Mỹ Trung liệu có kết thúc? Cuộc chiến thương mại Mỹ Trung liệu có kết thúc?
Tận dụng cơ hội từ cuộc chiến thương mại Tận dụng cơ hội từ cuộc chiến thương mại
Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung: Cần đánh giá những hàng hóa bị tác động Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung: Cần đánh giá những hàng hóa bị tác động

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.046 23.276 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.077 23..289 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.400
Vàng SJC 5c
55.950
56.420
Vàng nhẫn 9999
53.600
54.100
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.800