Dần thích ứng với trạng thái “bình thường mới”

10:26 | 26/11/2021

Sau giãn cách xã hội lần thứ 4, hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhiều địa phương đang tiếp tục tăng tốc, thích ứng với trạng thái bình thường mới. Trong đó, nhiều tỉnh thành ghi nhận trên 90% doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, khôi phục chuỗi sản xuất.

Cụ thể, tại tỉnh Long An, tính đến ngày 18/11/2021, trên địa bàn tỉnh ước có trên 91% doanh nghiệp đã hoạt động lại với khoảng 330.000 lao động (toàn tỉnh có 13.590 doanh nghiệp đăng ký thành lập).

Tại tỉnh Sóc Trăng, có 312 doanh nghiệp hoạt động sản xuất công nghiệp với tổng số 48.694 lao động. Trong đó, Khu công nghiệp An Nghiệp có 47 doanh nghiệp hoạt động với 22.000 lao động; ngoài khu công nghiệp có 265 doanh nghiệp hoạt động với 26.694 lao động. Hiện nay, tỉnh Sóc Trăng triển khai áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo Quyết định số 2750/QĐ-UBND ngày 16/10/2021 của UBND tỉnh Sóc Trăng ban hành quy định tạm thời các biện pháp hành chính “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” theo từng cấp độ dịch trên địa bàn tỉnh. Theo đó, hoạt động sản xuất công nghiệp từng bước được phục hồi, các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp An nghiệp đã phục hồi sản xuất đạt 84%, các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp đạt 54,4% công suất. Đến nay đã có 135 doanh nghiệp hoạt động với 33.034 lao động chiếm 67,8% lao động toàn ngành.

dan thich ung voi trang thai binh thuong moi
Các DN dần ổn định sản xuất những tháng cuối năm 2021

Theo đánh giá của Cục Công nghiệp (Bộ Công thương) và các hiệp hội ngành hàng, nhìn chung, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong thời gian vừa qua đã phát huy hiệu quả rất lớn trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Đặc biệt, sau khi Chính phủ ban hành và triển khai Nghị quyết số 128/NQ-CP, các doanh nghiệp đã dần mở cửa trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh, vừa phòng chống dịch vừa khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động sản xuất công nghiệp trong tháng 10/2021 đã có những dấu hiệu phục hồi khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tăng 6,9% so với tháng trước. Đặc biệt, các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, da - giày, điện tử được các hiệp hội dự báo sẽ có kim ngạch xuất khẩu trong năm 2021 tăng khá cao so với năm 2020 khi các doanh nghiệp dần được tiếp cận trở lại với nhiều đơn hàng quốc tế lớn.

Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn còn diễn biến khó lường, nguy cơ dịch bệnh có thể bùng phát trở lại, xảy ra ở bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào. Những nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng cũng như nguồn cung lao động có thể trở lại với doanh nghiệp nếu Nhà nước không có các biện pháp kịp thời để tiếp tục kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, đặc biệt là tại các tỉnh, thành phố phía Nam.

Thực tế trên rất cần các cấp, các ngành, các hiệp hội ngành hàng tiếp tục vào cuộc nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nối lại nhanh chuỗi sản xuất, khôi phục nền kinh tế, theo tinh thần Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ và các quy định, hướng dẫn tạm thời về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Theo đó, các hiệp hội ngành hàng kỳ vọng tiếp tục đẩy nhanh tiến độ tiêm văc-xin, đặc biệt là tại các địa phương trọng điểm về sản xuất, có tình hình diễn biến dịch bệnh phức tạp để nhanh chóng kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người lao động duy trì và sớm triển khai bình thường trở lại các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Các cơ quan có thẩm quyền cần phối hợp triển khai đồng bộ, thống nhất, hiệu quả quy định tạm thời về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 tại Nghị quyết số 128/NQ-CP, sớm ban hành thêm các hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn về quy trình phòng dịch trong tình hình mới để các doanh nghiệp thống nhất và chủ động áp dụng. Tránh tình trạng ban hành và thực thi các chính sách không phù hợp với chủ trương phòng, chống dịch trong bối cảnh mới của Chính phủ gây ách tắc, khó khăn cho việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa và di chuyển của người lao động.

Bộ Công thương đề xuất, cần có các chính sách tạo điều kiện để lực lượng lao động trở lại làm việc, mà điểm nhấn là tại các thành phố và các trung tâm công nghiệp lớn trong thời gian sớm nhất, bảo đảm việc tiếp cận hiệu quả các chính sách hỗ trợ về an sinh xã hội của Nhà nước cho người lao động, nhanh chóng phục hồi nguồn cung lao động phục vụ sản xuất.

Thứ sáu, nhằm giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp trong thời kỳ dịch bệnh, và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh, cần tiếp tục bảo đảm triển khai hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, người dân của Chính phủ (như các hỗ trợ về thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, giảm giá điện, hỗ trợ tín tụng, tiền tệ, hỗ trợ các chi phí an sinh xã hội, giảm các chi phí chống dịch, hỗ trợ tuyển dụng lao động…) nhằm giúp các doanh nghiệp từng bước khôi phục các nguồn lực về tài chính và lao động phục vụ cho sản xuất.

Trên cơ sở các đề xuất của các Hiệp hội, Cục Công nghiệp sẽ tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ để phối hợp với các bộ, ngành liên quan sớm triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhanh chóng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động.

Duy Khánh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.580 22.810 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.615 22.815 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.595 22.815 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.585 22.780 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.790 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.620 22.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.615 22.830 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.583 22.813 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.620 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.640 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.450
52.150
Vàng nữ trang 9999
51.150
51.850