Dấu ấn “người cho vay cuối cùng”

10:30 | 02/12/2019

Việc “bơm, hút tiền” kịp thời của NHNN trong thời gian qua đã đảm bảo tốt thanh khoản của hệ thống ngân hàng, vừa duy trì mức cung tiền phù hợp với yêu cầu ổn định vĩ mô, trong khi vẫn giúp mua vào ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối quốc gia.

Thực hiện cơ chế một cửa giải quyết thủ tục hành chính tại NHNN
Giảm lãi suất hỗ trợ cho nền kinh tế
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Người cho vay cuối cùng là một trong những chức năng quan trọng của các ngân hàng trung ương trong việc hỗ trợ kịp thời thanh khoản cho các tổ chức tín dụng nhằm ổn định thị trường tiền tệ. Có thể nói chức năng này đã được NHNN thực hiện rất tốt trong thời gian qua để điều tiết cung tiền, ổn định thanh khoản hệ thống nhằm kiểm soát lạm phát qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó đã một lần nữa được khẳng định qua diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua.

Quả vậy, thanh khoản của hệ thống đã có dấu hiệu bớt dư thừa hơn ngay từ đầu tháng 11. Nguyên nhân một phần do theo quy định của Thông tư 58/2019/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 1/11/2019, toàn bộ số dư tiền gửi kho bạc phải được kết chuyển về NHNN thay vì để lại ở một số NHTM lớn như trước đây. Bên cạnh đó, giai đoạn này thanh khoản của hệ thống cũng thường căng hơn do những tháng cuối năm nhu cầu tín dụng tăng cao, trong khi doanh nghiệp, người dân lại có xu hướng rút tiền gửi để chi dùng.

Trước thực tế này, để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống, NHNN đã chuyển sang bơm ròng tiền vào thị trường thay vì hút ròng tiền về như thời gian trước. Khối lượng bơm ròng cũng tăng dần, tùy thuộc vào nhu cầu thanh khoản của hệ thống, nhưng chủ yếu vẫn thông qua việc giải phóng lượng tiền đã bị tạm giữ trong kênh tín phiếu trước đó. Theo đó trong tuần từ 4 đến 8/11, NHNN đã bơm ròng 6.000 tỷ đồng vào thị trường; tuần từ 11 đến 15/11 là 8.000 tỷ đồng và tuần từ 18 đến 22/11 lượng bơm ròng đạt tới 25.000 tỷ đồng.

Thế nhưng càng về cuối tháng, dấu hiệu khó khăn cục bộ về thanh khoản càng lộ rõ, đẩy lãi suất liên ngân hàng bật tăng rất mạnh, thậm chí có thời điểm, lãi suất cho vay qua đêm giữa các ngân hàng đã vọt lên mức 4,55%/năm, kỳ hạn 1 tuần là 4,92%/năm. Tình trạng này nếu kéo dài có thể ảnh hưởng tới mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1, đe đọa phá vỡ chủ trương giảm lãi suất mà NHNN vừa triển khai.

Bởi vậy, NHNN đã tăng mạnh lượng bơm ròng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD. Theo đó, nhà điều hành đã tái khởi động công cụ cho vay cầm cố sau một thời gian dài tạm ngừng, kết hợp với lượng vốn được giải phóng qua kênh đáo hạn tín phiếu. Theo đó, trong phiên ngày 25/11, NHNN đã bơm ra 4.000 tỷ đồng qua kênh mua kỳ hạn giấy tờ có giá, cộng thêm 5.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn, tống cộng đã có 9.000 tỷ đồng được bơm vào thị trường trong phiên này. Thậm chí trong phiên ngày 26/11, nhà điều hành còn bơm tới 26.000 tỷ đồng vào thị trường, bao gồm 23.000 tỷ đồng qua kênh OMO và 3.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Đặc biệt, lãi suất OMO đã được nhà điều hành giảm mạnh từ 4,5%/năm xuống còn 4%/năm mà theo đánh giá của Công ty chứng khoán KB, “mức điều chỉnh này là có chủ đích của NHNN nhằm tác động trực tiếp đối với chi phí vay vốn ngắn hạn của các ngân hàng trên kênh OMO khi nhu cầu vốn mùa cao điểm đang đến gần”.

Sau động thái bơm ròng mạnh của NHNN, thanh khoản của hệ thống đã dần ổn định trở lại, lãi suất liên ngân hàng cũng hạ nhiệt. Bằng chứng là trong phiên ngày 27/11, nhà điều hành chào mua 7.000 tỷ đồng giấy tờ có giá, song các TCTD chỉ hấp thụ được có 4.000 tỷ đồng. Trong khi lãi suất qua đêm liên ngân hàng cũng giảm rất mạnh xuống còn 3,83%; lãi suất 1 tuần giảm còn 4,0%.

Thậm chí phiên ngày 28/11, NHNN tạm dừng hoạt động bơm ròng khi không chào mua giấy tờ có giá, trong khi số dư tín phiếu cũng đã giảm về 0 trong phiên ngày 27/11. Thế nhưng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm về còn 3,64% đối với cho vay qua đêm và 3,97% đối với kỳ hạn 1 tuần.

Tuy nhiên, để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống trong những tháng cuối năm, NHNN đã bơm 18.000 tỷ đồng vào thị trường qua kênh OMO, đặc biệt, nhà điều hành đã nâng kỳ hạn cho vay lên 14 ngày, lãi suất OMO vẫn được giữ ở mức 4%/năm. Tính chung trong tuần qua nhà điều hành đã bơm thêm 62.000 tỷ đồng vào thị trường.

Theo giới chuyên gia, những cơn nóng lạnh trên thị trường là điều khó tránh, thế nhưng thị trường hoàn toàn tin vào khả năng vai trò điều tiết của NHNN. TS. Võ Trí Thành – nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đánh giá, điều hành chính sách tiền tệ của NHNN ngày càng khéo léo và thông minh hơn, đặc biệt là trong hoạt động bơm - hút tiền trên thị trường.

Việc “bơm, hút tiền” kịp thời của NHNN trong thời gian qua đã đảm bảo tốt thanh khoản của hệ thống ngân hàng, vừa duy trì mức cung tiền phù hợp với yêu cầu ổn định vĩ mô, trong khi vẫn giúp mua vào ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối quốc gia.

Anh Thư

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080