Đầu tư hạ tầng và bài toán tối ưu hoá

12:00 | 12/06/2019

Trong khuyến nghị mới nhất đối với Việt Nam nhằm hướng tới tăng trưởng chất lượng cao giai đoạn 2021-2030, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng cần tập trung vào việc phát triển kết cấu hạ tầng chất lượng. 

Đầu tư hạ tầng - “cú hích” thúc đẩy phát triển
Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu về đầu tư hạ tầng tại châu Á

Theo WB, Việt Nam đã đạt được kết quả ấn tượng trong hoạt động đầu tư vào cơ sở hạ tầng (CSHT) và cần duy trì mức chi đầu tư CSHT hiện nay để đáp ứng nhu cầu gia tăng từ các ngành quan trọng như năng lượng, giao thông, hạ tầng đô thị.

Bên cạnh đó, khi Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình, thách thức chính trong lĩnh vực CSHT không phải số lượng mà là chất lượng, tập trung vào sắp xếp thứ tự ưu tiên, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư.

Bà Madhu Raghunath, Điều phối viên Nhóm Phát triển bền vững của WB, phân tích mặc dù Việt Nam đã đầu tư rất nhiều vào CSHT so với các quốc gia khác trong khu vực, song hiệu quả đầu tư còn nhiều điều đáng bàn. Chẳng hạn, nếu nhìn vào quy hoạch cảng hàng không sẽ thấy một số sân bay đang hoạt động quá công suất, vượt giới hạn thiết kế ban đầu, như Nội Bài (Hà Nội), Tân Sơn Nhất (TP. Hồ Chí Minh).

Trong khi đó, những sân bay khác với nhu cầu vận tải thấp hơn lại đang được quy hoạch gần với các sân bay hiện có. Chẳng hạn, sân bay dân sự trị giá 194 triệu USD ở phía Nam tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, mặc dù tỉnh này đã có sân bay đang hoạt động tại Côn Đảo và sây bay quốc tế Long Thành được quy hoạch ở phía Nam tỉnh Đồng Nai chỉ cách đó 40 km.

Tương tự như vậy, các cảng container phổ biến tại những cảng chính của Việt Nam vượt xa các cảng container được thấy ở nhiều cảng lớn khác trên thế giới. Hiện nay miền Bắc có 12 cảng container hoạt động, miền Nam có 11 cảng container với 7 cảng mới đang được quy hoạch. So sánh với các cảng lớn trên toàn cầu như Antwerp, Hong Kong, New York, Rotterdam, Thượng Hải… đều chỉ có không quá 5-8 cảng container mỗi nơi. Bà Madhu Raghunath lưu ý, quan trọng là cần sử dụng hết công suất để có hiệu quả tối đa, thay vì quy hoạch và xây dựng thêm quá nhiều các công trình tương tự.

Một vấn đề khác mà chuyên gia của WB cảnh báo là, để tối đa hoá toàn bộ tiềm năng của hệ thống CSHT, cần thực hiện nhiều giải pháp trong công tác vận hành và bảo trì, cung cấp dịch vụ có chất lượng và nâng cao khả năng thu hồi vốn. Theo đó, Việt Nam cần tập trung hơn vào việc duy tu bảo dưỡng cũng như lập kế hoạch vốn đầy đủ cho công tác duy tu bảo dưỡng các công trình CSHT hiện nay cũng như trong tương lai.

Bà Madhu Raghunath lưu ý thêm rằng, Việt Nam mới chỉ khai thác được lượng vốn lớn đầu tư cho CSHT trong các lĩnh vực giao thông, năng lượng, trong khi lại bỏ ngỏ nhiều lĩnh vực quan trọng khác như nước sạch và vệ sinh, giáo dục… “Nhìn vào vai trò của cơ chế thu hồi vốn các công trình CSHT, ta thấy đây là chìa khoá quan trọng nếu Chính phủ muốn hướng tới việc thu hút vốn tư nhân vào các lĩnh vực khó hướng tới như nước sạch và vệ sinh…”, bà chia sẻ.

Đồng quan điểm với các khuyến nghị của WB, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng thừa nhận, chất lượng hạ tầng của Việt Nam đang là vấn đề lớn. Ngay trong cơ cấu các phân khúc vận tải đã cho thấy sự bất hợp lý khi đường sắt chưa được tập trung phát triển, đường thuỷ khai thác chưa đúng mức, đường bộ tăng trưởng rất chậm.

“Có lẽ chúng ta đang bị mất cân đối khi tính toán về đầu tư và cơ cấu của các phương thức vận tải làm sao đồng bộ, phù hợp điều kiện Việt Nam để chi phí vận tải giảm đi, chứ không phải ồ ạt phát triển một lĩnh vực trong khi lại bỏ mặc các phương thức chi phí thấp như đường sắt, đường thuỷ”, ông Dũng đánh giá.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, do dự báo, tính toán tầm nhìn không theo kịp thực tiễn, nên hạ tầng kết nối không đồng bộ, khai thác sử dụng kém hiệu quả. Ví dụ tải trọng cầu không đồng bộ tải trọng đường, làm cảng xong không có đường đấu nối, xây dựng cao tốc xong thiếu đường gom và đường mắt cá. Rõ ràng, nếu chỉ tính đầu tư một dự án mà không tính tới việc kết nối giữa các lĩnh vực với nhau cho đồng bộ thì không bao giờ đạt hiệu quả cao.

“Hạ tầng phải đi trước một bước thì mới có tăng trưởng bền vững, chất lượng cao. Có lẽ cần phân tích sâu hơn để thấy điểm nghẽn hạ tầng hiện nay như thế nào, nếu không bài toán này cứ nói đi nói lại mãi mà không thể giải quyết được”, ông Dũng khẳng định.

Lan Hương

Nguồn:

Tags: hạ tầng WB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
45.000
45.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
45.000
45.400
Vàng SJC 5c
45.000
45.420
Vàng nhẫn 9999
44.980
45.480
Vàng nữ trang 9999
44.600
45.400