Đầu tư ra nước ngoài vẫn cần thủ tục thông thoáng hơn

09:39 | 14/10/2020

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đang lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Nghị định quy định về đầu tư ra nước ngoài. Theo ghi nhận ban đầu, các ý kiến đồng tình rằng cần siết chặt những vấn đề liên quan đến an ninh, tài chính, bất động sản... song mặt khác với những dự án, nhà đầu tư (NĐT) đủ điều kiện thì cần thủ tục thông thoáng hơn để tạo thuận lợi.

Sẽ đón đầu các xu hướng mới
Việt Nam tăng mạnh đầu tư ra nước ngoài
Việt Nam đầu tư ra nước ngoài 68,9 triệu USD

Nhiều vấn đề phát sinh, đòi hỏi bổ sung

Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH&ĐT đánh giá, riêng từ 2015 đến nay, số lượng dự án đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam đã chiếm 45% tổng số dự án lũy kế, mặc dù vốn đăng ký chỉ chiếm 14,6% tổng vốn đăng ký. Điều này cho thấy nhu cầu đầu tư ra nước ngoài đang gia tăng nhanh chóng trong giai đoạn vừa qua. Bên cạnh đó, số vốn rót ra hàng năm nhỏ lại là bởi hoạt động đầu tư ra nước ngoài đang được “chuyển vai” dần sang khu vực DN tư nhân thay vì chỉ do DNNN đảm nhiệm như trước kia.

Các dự án trong giai đoạn này ngoài các thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, Nga… DN Việt Nam đã mở rộng đầu tư sang cả những quốc gia vốn là các NĐT lớn tại Việt Nam như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore, Australia, châu Âu; và từng bước vươn tới các thị trường xa như châu Mỹ Latinh, châu Phi. Về lĩnh vực đầu tư, bên cạnh thế mạnh trong lĩnh vực trồng cây công nghiệp, thăm dò khai thác dầu khí, kinh doanh thương mại, nhiều NĐT Việt Nam đã chuyển sang kinh doanh bất động sản, sản xuất công nghiệp, cung cấp dịch vụ các loại (viễn thông, tài chính – ngân hàng, công nghệ thông tin, du lịch, xây dựng...).

Ngày càng có nhiều DN tư nhân đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài

Trước sự thay đổi đa dạng của hình thức đầu tư ra nước ngoài, ông Đỗ Nhất Hoàng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho biết, quan điểm xây dựng nghị định là “vừa thoáng, vừa siết”. Theo đó, một mặt tạo sự thông thoáng nhất có thể cho DN, NĐT, nhưng cũng phải siết với những vấn đề cần siết, như quy định chặt chẽ hơn đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài của khu vực DNNN, hoặc quy định cụ thể hơn về các trường hợp cá nhân không được thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Hiện Bộ KH&ĐT cũng đang nâng cấp Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 đối với thủ tục hành chính về đầu tư ra nước ngoài. Trong giai đoạn đầu sẽ triển khai áp dụng với thủ tục cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đối với dự án có quy mô vốn dưới 20 tỷ đồng. Song cho tới thời điểm hiện tại cũng chưa có quy định pháp lý cho vấn đề này để làm cơ sở triển khai thực hiện. Do đó, đây cũng sẽ là vấn đề được đặt ra và quy định cụ thể trong dự thảo Nghị định.

Thủ tục phải gọn hơn, thời gian phải ngắn lại

Cũng như Ban soạn thảo luật đánh giá, hiện nay các vấn đề về thủ tục hành chính vẫn còn tồn tại vướng mắc đối với NĐT, mới đây, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã gửi tới ban soạn thảo Nghị định một số ý kiến ban đầu có liên quan đến vấn đề thủ tục thực hiện dự án. Cơ quan này cho rằng, một số loại tài liệu quy định phải có trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc diện chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, là không cần thiết.

Theo đó, Điều 16 dự thảo Nghị định quy định, trong hồ sơ phải có 3 loại tài liệu gồm: văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của NĐT; tài liệu xác định hình thức đầu tư ra nước ngoài; văn bản của tổ chức tín dụng xác nhận số dư tài khoản ngoại tệ của NĐT trong trường hợp NĐT cam kết tự thu xếp ngoại tệ.

Đối với văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của NĐT, VCCI cho rằng các cơ quan quản lý nhà nước có thể trao đổi trực tiếp với nhau, không cần thiết phải yêu cầu NĐT nộp loại tài liệu này. Để đảm bảo tinh thần đơn giản hóa thủ tục hành chính, VCCI đề nghị cân nhắc bỏ quy định này. Thay vào đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ, cơ quan cấp giấy chứng nhận có thể trao đổi thông tin với cơ quan quản lý thuế để kiểm tra về việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NĐT.

Điều 10 Dự thảo quy định cần có các loại tài liệu xác định hình thức đầu tư ra nước ngoài của các hình thức đầu tư theo hợp đồng, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý của tổ chức kinh tế đó. Theo VCCI, việc yêu cầu loại tài liệu này là chưa hợp lý. Bởi lẽ NĐT có thể mới có dự kiến đầu tư và chưa thực hiện bất kỳ thủ tục đầu tư nào ở nước ngoài. Như vậy NĐT không thể cung cấp được các loại tài liệu xác định hình thức đầu tư quy định tại dự thảo.

Về trình tự, thủ tục giải quyết thủ tục hành chính, NĐT đánh giá dự thảo đã quy định này rõ ràng, cụ thể về các bước và thời gian thực hiện. Tuy nhiên, để thực sự đảm bảo tính minh bạch và thuận lợi trong quá trình triển khai thì cần cân nhắc, xem xét một số điểm.

Chẳng hạn thời gian kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ chưa được quy định rõ. Điều này có thể khiến cho quy trình thủ tục bị kéo dài, gây khó khăn cho NĐT. Tương tự như vậy, theo khoản 6 Điều 19, thời hạn cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong trường hợp bị mất, cháy, rách, nát hoặc bị hỏng dưới hình thức khác là 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của NĐT. Đây là khoảng thời gian quá dài để cấp lại Giấy chứng nhận trong trường hợp đơn giản trên, do đó đề nghị rút ngắn thời hạn này lại khoảng 5 ngày làm việc.

Trong 9 tháng đầu năm 2020, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và điều chỉnh đạt 432,12 triệu USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó có 96 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới, với tổng vốn đăng ký đạt gần 268,35 triệu USD (giảm 12,8% so với cùng kỳ) và 28 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm là 163,76 triệu USD (tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2019).

Công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu, với 10 dự án cấp mới và 7 lượt điều chỉnh vốn, tổng vốn đăng ký 227,7 triệu USD, chiếm 52,7% tổng vốn đầu tư. Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đứng thứ 2, với tổng vốn đầu tư 62,5 triệu USD, chiếm 14,5%; tiếp theo là các lĩnh vực hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; dịch vụ lưu trú và ăn uống…

Đức Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400