Để khơi dậy tiềm năng tăng trưởng

07:22 | 18/11/2021

Tăng trưởng cả năm 2021 dự báo đạt mức rất thấp, trong khi đại dịch Ccovid-19 cũng khiến tiềm năng tăng trưởng bị suy giảm nhiều. Do đó, cần các chính sách và giải pháp để giúp tăng trưởng phục hồi nhanh trở lại trong ngắn hạn cũng như để vực dậy tiềm năng tăng trưởng trong trung và dài hạn.

de khoi day tiem nang tang truong WB: Kinh tế Việt Nam đang dần phục hồi
de khoi day tiem nang tang truong Tín dụng sớm lấy lại đà tăng trưởng
de khoi day tiem nang tang truong Để không lỡ nhịp phục hồi và tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng 2021 dự báo rất thấp

Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa XV mới đây, đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân (Cà Mau) cho rằng, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tấn công nền kinh tế với cường độ còn mạnh hơn năm 2020 nên tăng trưởng kinh tế năm nay sẽ rất khó đạt được mức 3-3,5% như báo cáo của Chính phủ. “Nếu GDP quý IV đạt 8,6% thì mới đạt được mức tăng trưởng cả năm 3,5%. Tôi e rất khó để đạt được như vậy”, đại biểu Vân cho biết.

Lo ngại của ông Lê Thanh Vân không phải không có cơ sở. Đơn cử, trong báo cáo vĩ mô tháng 11 vừa qua, chuyên gia kinh tế Yun Liu của Khối Nghiên cứu Kinh tế Toàn cầu của HSBC cho biết, “với tình hình phục hồi sản xuất chưa diễn ra nhanh như kỳ vọng nên chúng tôi vẫn giữ quan điểm về khả năng phục hồi tăng trưởng sẽ không mạnh mẽ, chỉ ở mức 3,8% trong quý IV/2021”.

de khoi day tiem nang tang truong
Xuất khẩu tăng mạnh giúp cán cân thương mại thặng dư trở lại trong tháng 10

Trong các dự báo gần đây, nhiều chuyên gia, tổ chức trong và ngoài nước đều nhận định mức tăng trưởng GDP cả năm nay chỉ quanh 2-2,5%. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2021 xuống 2,7%; Bản tin cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 10/2021 của WB Việt Nam cũng điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 xuống khoảng 2-2,5%... Thậm chí theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) đưa ra vào đầu tháng này, tăng trưởng có thể chỉ 1,52% (ở kịch bản cơ sở, với dự báo tăng trưởng quý IV ở mức 2,02%). Ngay cả với kịch bản khả quan, tăng trưởng cả năm cũng chỉ 1,9% (với dự báo tăng trưởng quý IV ở mức 3,17%). Còn trong trường hợp xấu, có thể chỉ tăng trưởng ở mức khoảng 0,43% (với giả định quý IV tiếp tục tăng trưởng âm ở mức -1,28%).

TS. Trần Toàn Thắng thuộc NCIF nhận định, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 trong quý III rất nghiêm trọng và trước những rủi ro tiếp diễn từ cả bên trong và bên ngoài, kinh tế quý IV/2021 khó có khả năng phục hồi nhanh, vì vậy tăng trưởng cả năm 2021 cũng chịu ảnh hưởng dẫn đến các dự báo như đã đề cập ở trên. Chuyên gia này cũng thừa nhận rằng, các dự báo này không dựa trên cơ sở chạy các mô hình định lượng (bởi việc sử dụng các mô hình hầu như không còn chuẩn xác trong bối cảnh tác động bất thường của dịch bệnh hiện nay) mà thay vào đó là dựa trên phân tích, dự báo về khả năng phục hồi của các ngành, lĩnh vực và khả năng phục hồi của cầu tiêu dùng.

Các chuyên gia cho rằng về mặt kinh tế, đại dịch Covid-19 không còn được coi là một hiện tượng gây ra sự gián đoạn, đứt đoạn đơn thuần và tạm thời, mà đã và đang làm thay đổi cấu trúc kinh tế cũng như các hành vi đầu tư, sản xuất, tiết kiệm, tiêu dùng… đồng thời tác động tiêu cực đến các động lực tăng trưởng, thậm chí khiến tiềm năng tăng trưởng kinh tế bị suy giảm nhanh cả trong ngắn và trung hạn. TS. Võ Trí Thành - nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) lưu ý, các mức tăng trưởng GDP 2,91% của năm 2020 và dự kiến mức 2-2,5% của năm nay đều là những mức thấp nhất trong 35 năm kể từ sau Đổi mới 1986.

“Nếu với các nước phát triển, việc GDP tăng trưởng âm trong 2 quý liên tiếp được coi là suy thoái thì với những nước đang phát triển như Việt Nam, chúng tôi coi mức tăng trưởng chỉ 2% - 3% cũng đã là suy thoái”, chuyên gia này nhìn nhận và cho biết, đã có những nghiên cứu cho thấy, muốn đảm bảo việc làm, thu nhập… thì tăng trưởng kinh tế ít nhất phải quanh mức 5%. TS. Thành nhắc lại, vì vậy có thể coi 2 năm 2020 và 2021 (nếu tăng trưởng chỉ ở mức 2-2,5%) là suy thoái kinh tế. Một điểm cần lưu ý khác là nếu trong năm 2020, dù tăng trưởng chỉ 2,91% nhưng Việt Nam được coi là “ngôi sao đang lên” trong bầu trời ảm đạm, kinh tế thế giới tăng trưởng suy thoái nặng nề thì đến năm 2021 dù vẫn giữ được mức tăng trưởng 2-2,5% nhưng lại là “điểm ảm đạm” trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang phục hồi. “Nên chúng ta nói về nguy cơ lỡ nhịp, và phải bắt nhịp chính là ở những điểm như vậy”, TS. Võ Trí Thành nói.

Vượt nguy, tận dụng cơ

Tuy nhiên, các chuyên gia, đại biểu Quốc hội cũng nhấn mạnh, nền kinh tế vẫn có nhiều điểm tích cực: Kinh tế vĩ mô vẫn ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp; các cân đối lớn được đảm bảo, ngân sách cơ bản tốt; “sức khỏe” của hệ thống tài chính - ngân hàng tốt hơn giai đoạn 2009 rất nhiều; tăng trưởng xuất khẩu nhìn chung khả quan; dòng vốn FDI vào tiếp tục tăng… Những yếu tố đó cho thấy dù kinh tế Việt Nam chưa thực sự bắt nhịp tốt với kinh tế song vẫn có những nền tảng cho phục hồi.

Cũng chính vì vậy mà nhìn vào triển vọng ngắn hạn hay trung và dài hạn hơn, các chuyên gia và tổ chức vẫn giữ góc nhìn lạc quan. Trước mắt trong năm 2022, rất nhiều dự báo kinh tế sẽ phục hồi, mức tăng trưởng GDP hoàn toàn có thể trở lại ngưỡng khoảng 6%, thậm chí có thể quanh 7% nếu tiếp tục kiểm soát dịch thành công, tận dụng được các cơ hội (từ đà phục hồi của kinh tế thế giới, tận dụng các FTA, phục hồi và khơi thông được sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng trong nước…), đồng thời hóa giải được các thách thức ở cả trong và ngoài nước (áp lực lạm phát, nguy cơ nợ xấu gia tăng; tác động của biến động giá cả nguyên nhiên liệu đầu vào, chi phí logistics…).

Để đảm bảo tăng trưởng và phục hồi nhanh, bền vững, các chuyên gia cho rằng cần một loạt chính sách, giải pháp cả trong ngắn và dài hạn. “Trong ngắn hạn, cần tập trung vào các biện pháp kiểm soát hợp lý Covid-19, gia tăng độ bao phủ vaccine. Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn ngắn hạn vẫn cần được thực hiện khẩn trương, tuy nhiên cần chú ý về chi phí thực hiện chính sách, cũng như hiệu lực thực thi chính sách tương đối thấp hiện nay”, TS. Trần Toàn Thắng đề xuất.

Trong dài hạn, cần chú ý cải thiện năng suất lao động, môi trường kinh doanh, đặc biệt cần coi chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế như một cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới thể chế chính sách, thực thi nghiêm kỷ luật công vụ và có những điều chỉnh phù hợp với phân cấp quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, các biện pháp thúc đẩy đầu tư công, đặc biệt là đầu tư cải thiện hạ tầng số và thúc đẩy DN áp dụng chuyển đổi số là cần thiết. Đồng thời, tận dụng gói hỗ trợ để phát triển một số ngành mũi nhọn, cải thiện chuỗi cung ứng và phát triển công nghiệp phụ trợ.

Trong khi đó theo đại biểu Lê Thanh Vân, bên cạnh các nhiệm vụ và giải pháp mà Chính phủ đã đưa ra, cần thêm một số giải pháp trọng tâm để hỗ trợ cho tăng trưởng như: Sắp xếp trật tự ưu tiên theo hướng ưu tiên củng cố và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tập trung rà soát và sửa đổi thể chế; đẩy nhanh việc ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý, vào sản xuất và lưu thông; cơ cấu lại nguồn vốn, đặc biệt là vốn đầu tư công. Đặc biệt, “Quốc hội, Chính phủ cần sớm cụ thể hóa Kết luận 14 của Bộ Chính trị về bảo vệ cán bộ, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Có như vậy mới phát huy được tính năng động, sáng tạo của cán bộ”, ông Lê Thanh Vân nhấn mạnh.

Các chuyên gia cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tính cần thiết và cấp thiết của Chương trình hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế. Tại các phiên chất vấn và trả lời chất trong Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa XV vừa diễn ra, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, nếu không có chính sách hỗ trợ kịp thời, nền kinh tế không thể sớm phục hồi và tăng trưởng, ảnh hưởng đến thực hiện các mục tiêu từng năm, 5 năm và 10 năm.

Vì vậy Chương trình đang được khẩn trương xây dựng, hoàn thiện để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội, với quan điểm chung là phải có quy mô đủ lớn, thời gian thực hiện phù hợp (2022-2023), đảm bảo khả năng vay - trả và khả năng hấp thụ của nền kinh tế; bảo đảm ổn định KTVM và các cân đối lớn của nền kinh tế; gắn kết chặt chẽ chiến lược phát triển kinh tế 10 năm và kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm, kế hoạch tài chính công, kế hoạch cơ cấu nền kinh tế.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.605 22.835 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.635 22.835 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.615 22.835 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.610 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.630 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.633 22.848 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.600 22.830 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.630 22.810 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.650 22.810 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.300
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.700