Để nông sản xuất khẩu không gặp khó

09:13 | 26/07/2019

Xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đang gặp nhiều trở ngại. Đây vừa là thách thức song cũng là cơ hội để ngành nông nghiệp Việt Nam thay đổi cách sản xuất, làm ăn bài bản hơn.

Hệ thống cửa hàng thực phẩm sạch đang suy thoái
Nông sản hội nhập CPTPP: Giai đoạn đầu sẽ khó cạnh tranh
Xuất khẩu nông sản sau các FTA: Hiểu rõ để tránh chủ quan

Theo báo cáo từ Bộ Công thương, do nhu cầu và giá nông sản có xu hướng giảm khiến cho xuất khẩu (XK) nông, thủy sản của Việt Nam tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong nửa đầu năm 2019. Kim ngạch XK nhóm hàng nông, thủy sản đã sụt giảm 6,9% so với cùng kỳ năm 2018, ước đạt 12,4 tỷ USD. Trong nhóm hàng này, thủy sản là mặt hàng có kim ngạch XK cao nhất với 3,93 tỷ USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2018. XK cà phê cũng giảm 10,6% về lượng và 21,1% về kim ngạch; Gạo giảm 2,9% về lượng và 17,6% về kim ngạch; Sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 17,7% về lượng và 13,9% về kim ngạch.

Nông sản gặp khó vì tư tưởng thích sản xuất để xuất khẩu tiểu ngạch

Hiện nay, XK nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đang gặp nhiều trở ngại vì từ tháng 5/2019, phía Trung Quốc đã tăng cường công tác quản lý, truy xuất nguồn gốc đối với trái cây nhập khẩu bằng cách yêu cầu DN nhập khẩu của Trung Quốc phải đăng ký mẫu tem nhãn truy xuất nguồn gốc tại cơ quan Hải quan Trung Quốc. Đồng thời, các mẫu tem này được dán trên các sản phẩm trái cây nhập khẩu. Tem nhãn gồm danh sách vườn trồng, cơ sở đóng gói, các thông tin về vườn trồng...

Ông Lê Thanh Hòa, Phó Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) cho biết, Cục đã có công văn gửi Cục Bảo vệ thực vật và Hiệp hội Rau quả Việt Nam về thời hạn áp dụng quản lý truy xuất nguồn gốc trái cây nhập khẩu vào Trung Quốc.

Hiện việc XK nông sản sang Trung Quốc đang gặp phải một số vấn đề như vi phạm tiêu chuẩn chất lượng hàng nông sản, hiện tượng làm giả chứng nhận, mở đơn hàng, tờ khai giả. Trong năm 2018, phía Trung Quốc phát hiện 140 lô hàng gồm nhãn, chuối, chôm chôm có sinh vật gây hại, không đạt tiêu chuẩn. Cũng trong năm qua, tỉnh Nam Ninh (Trung Quốc) nhập khẩu 1,19 triệu tấn tinh bột sắn, qua kiểm tra đã phát hiện ba lô hàng không đạt tiêu chuẩn do có hàm lượng chì vượt mức cho phép.

Ở một câu chuyện khác, theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, trong tháng 6/2019, bình quân giá mít Thái đã giảm gần 35.000 đồng/kg so với thời điểm trước đó 2 tháng. Giá bán mít Thái chỉ ở mức 15.000 đồng/kg đối với loại I, 12.000 đồng/kg đối với loại II, 8.000 đồng/kg đối với loại III.

Cùng với đó, ông Tăng Xuân Trường, Chủ tịch HĐQT CTCP nông sản Hưng Việt cho biết, chính sách nhập khẩu từ Trung Quốc thay đổi trong khi DN chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nên vụ XK vải thiều năm nay, chi phí của DN bị đội lên từ 5-7% so với năm ngoái.

Đối với mặt hàng thuỷ sản, bà Đặng Thị Dịu, Giám đốc Công ty nuôi trồng thủy sản Nam Phú Hải (Móng Cái - Quảng Ninh) cho biết, do phía Trung Quốc siết chặt thị trường nên hiện nay giá tôm giảm 1/3 so với mọi năm. Điều này khiến DN rất khó khăn.

Thực tế, Trung Quốc là thị trường XK chủ lực của DN Nam Phú Hải cũng như nhiều DN trên địa bàn Móng Cái, song DN rất mù mờ về thông tin cũng như thiếu sự hỗ trợ từ cơ quan chức năng để có thể đáp ứng các yêu cầu của đối tác.

Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng khó khăn, thách thức từ thị trường Trung Quốc là rào cản tất yếu mà nông sản Việt Nam cần phải vượt qua.

Theo TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn, Trung Quốc là thị trường lớn, nằm ngay sát nước ta, đa phần các nước trên thế giới đều muốn đưa được hàng hóa vào thị trường đông dân nhất thế giới này. Nông sản Việt Nam cũng có thế mạnh cạnh tranh riêng tại thị trường này.

Từ xưa đến nay, khi làm ăn với thị trường Trung Quốc, các DN Việt Nam thường thích tâm lý buôn bán qua đường biên giới - xuất khẩu tiểu ngạch. Cụ thể, hàng nông sản thường được đưa lên cửa khẩu sau đó xuất sang các tỉnh biên giới của Trung Quốc là Vân Nam, Quảng Tây. Trong khi đó, đầu vào của chuỗi giá trị, đầu vào cho các nhà máy chế biến đang nằm ở các tỉnh Thâm Quyến, Thượng Hải. Nếu vào được những nơi này, hàng nông sản Việt Nam sẽ đảm bảo được đầu ra, giá cả ổn định, ông Đặng Kim Sơn nhận định. Đồng thời, hiện nay nhiều DN Việt Nam vẫn cho rằng thị trường Trung Quốc rất dễ tính, do vậy trước những yêu cầu về truy xuất nguồn gốc mà phía đối tác đưa ra, chúng ta đã rất khó khăn để đáp ứng. Tuy nhiên, thực tế đây mới chỉ là những yêu cầu cơ bản, mới dừng ở bước đầu.

Để giúp cho các DN có thêm thuận lợi, rất cần "bàn tay" hỗ trợ từ phía Nhà nước.

Trong đó, việc đầu tiên cần phải làm ngay là định ra hệ thống về mã số vùng trồng cho các địa phương, ngành hàng. Bên cạnh đó, nông dân cần phải liên kết với DN, sản xuất bám vào yêu cầu của thị trường, của người tiêu dùng, tiến đến sản xuất lớn, tuân thủ theo quy trình.

Theo ông Trần Thanh Nam - Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, để chiếm lĩnh thị trường Trung Quốc, DN Việt cần phải thay đổi tư duy XK, bắt buộc bằng con đường chính ngạch. DN phải bảo đảm chất lượng hàng hóa, truy xuất nguồn gốc và nhãn mác bao bì.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950