Để phục hồi nhanh, ổn định

09:25 | 14/01/2022

Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định sau năm 2021 vô cùng khó khăn và chịu cú sốc nghiêm trọng vì đợt bùng phát dịch COVID lần thứ 4, GDP của Việt Nam dự báo sẽ tăng ở mức 5,5% trong năm 2022 và lên mức 6,5% năm 2023 nhờ sức cầu hồi phục và kiểm soát dịch tốt.

Năm 2022 tăng trưởng 5,5%

Theo báo cáo Điểm lại - Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của WB vừa công bố ngày 13/1, GDP Việt Nam sẽ tăng tốc trong năm 2022 với tăng trưởng GDP dự báo tăng lên 5,5% so với 2,6% năm 2021. Với giả định đại dịch COVID-19 sẽ được kiểm soát trong và ngoài nước, báo cáo nhận định khu vực dịch vụ của Việt Nam sẽ dần phục hồi khi người tiêu dùng và nhà đầu tư lấy lại niềm tin, trong khi lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo được hưởng lợi nhờ nhu cầu ổn định từ Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Trung Quốc. Thâm hụt ngân sách và nợ công được kỳ vọng sẽ vẫn bền vững, với tỷ lệ nợ trên GDP dự kiến là 58,8% (dựa trên GDP chưa đánh giá lại), thấp hơn nhiều so với mức trần theo quy định.

Chia sẻ cụ thể hơn về triển vọng năm nay, bà Dorsati Madani - Chuyên gia kinh tế cao cấp của WB cho biết, dự kiến tăng trưởng năm nay dựa trên giả định dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả nên sẽ không xảy ra đợt bùng phát dịch COVID lớn, nghiêm trọng nào nữa trong năm nay, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi mạnh mẽ cả về cầu trong nước cũng như nhu cầu ổn định từ bên ngoài. Sức cầu trong nước phục hồi sẽ khiến áp lực lạm phát tăng lên, dự báo ở mức khoảng 3,5%. Trong khi đó, cán cân vãng lai dự kiến sẽ phục hồi và tăng trở lại; thâm hụt tài khóa dự báo khoảng 4,4% GDP.

de phuc hoi nhanh on dinh
Dòng vốn FDI được kỳ vọng sẽ tiếp tục chảy mạnh, qua đó thúc đẩy xuất khẩu

Các chuyên gia của WB cũng kỳ vọng, việc đại dịch được kiểm soát (cả trong nước và quốc tế), kết hợp với nới lỏng các biện pháp hạn chế đi lại và dịch tễ sẽ giúp khu vực dịch vụ phục hồi phần nào. Trong đó, khách du lịch quốc tế cũng được kỳ vọng sẽ bắt đầu quay trở lại từ giữa năm 2022 trở đi, giúp cho ngành du lịch từng bước phục hồi. Cán cân vãng lai được kỳ vọng sẽ đạt thặng dư ở mức nhỏ nhờ kết quả xuất khẩu và dòng kiều hối tiếp tục xu hướng tăng trưởng vững chắc. Do xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên vật liệu, nên thặng dư chỉ ở mức khiêm tốn, khoảng 1,5-2% GDP trong trung hạn. Kiều hối dự kiến đóng góp ổn định từ 18 tỷ USD đến 20 tỷ USD cho tài khoản vãng lai trong trung hạn.

Chính sách tốt sẽ giúp trở lại tăng trưởng ổn định

Tuy nhiên các chuyên gia WB cũng chỉ ra một số rủi ro lớn: Dịch bệnh diễn biến khó lường, có thể xuất hiện các biến chủng mới; nhu cầu trong nước yếu hơn kỳ vọng; nhu cầu yếu hơn của các đối tác lớn ảnh hưởng tới hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam; rủi ro nợ xấu gia tăng… “Quá trình phục hồi sẽ đối mặt với những rủi ro, bao gồm cả những tác động kéo dài từ năm 2021 về thu nhập của người lao động và hộ gia đình có thể ảnh hưởng đến sự phục hồi của nhu cầu trong nước. Trong khi các biến thể COVID mới - chẳng hạn như Omicron - có thể ảnh hưởng đến triển vọng kinh tế của Việt Nam và các đối tác thương mại. Khu vực tài chính – ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ nợ xấu ngày càng cao, điều này dẫn đến rủi ro đối với nền kinh tế thực”, bà Carolyn Turk - Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam nêu một số rủi ro chính.

Nếu sự bùng phát của các biến thể mới có thể dẫn đến việc phải tái áp đặt các biện pháp giãn cách xã hội, sẽ một lần nữa ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế. Bên ngoài, nhiều đối tác thương mại của Việt Nam đang phải đối mặt với dư địa tài khoá và tiền tệ bị thu hẹp, nên có thể sẽ hạn chế khả năng tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế của các nước này nếu cuộc khủng hoảng dịch bệnh tiếp tục kéo dài và điều này làm suy yếu nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam… Tuy nhiên bà Carolyn Turk cũng nhấn mạnh, các chính sách tốt và phù hợp có thể giảm thiểu những rủi ro này và giúp nền kinh tế phục hồi trở lại giai đoạn trước đại dịch. Cụ thể, WB dự báo mức tăng trưởng kinh tế sẽ ổn định về mức khoảng 6,5% từ 2023.

Để hóa giải các thách thức ngắn hạn trên, các chuyên gia đề xuất cần tiếp tục đẩy nhanh tiêm vắc-xin và duy trì thực hiện “Thông điệp 5K” để giảm rủi ro lây lan dịch bệnh trong cộng đồng. Bên cạnh đó trong bối cảnh Việt Nam còn dư địa tài khóa đáng kể, các biện pháp cần hướng đến hỗ trợ tổng cầu trong nước, trong đó có giảm thuế giá trị gia tăng (VAT), tăng chi cho y tế và giáo dục. “Các hỗ trợ dành cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng cần có quy mô lớn hơn và tập trung hơn. Các chương trình an sinh xã hội cần xác định đúng các nhóm đối tượng cần trợ giúp và triển khai thực hiện hiệu quả hơn để giải quyết những hậu quả tác động xã hội của đại dịch. Trong khi đó, rủi ro đang gia tăng trong khu vực tài chính cần được giám sát chặt chẽ và chủ động giải quyết”, chuyên gia Dorsati Madani đề xuất.

Trong dài hạn, đẩy mạnh đầu tư công, nhất là đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực là cách để hỗ trợ cho tiềm năng tăng trưởng của đất nước trong giai đoạn chuẩn bị triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 và chuyển đổi sang lộ trình tăng trưởng xanh, số hóa và bền vững hơn.

Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam cho biết, việc Quốc hội Việt Nam vừa thông qua gói kích thích kinh tế trị giá 7,5 tỷ USD cùng với một loạt các giải pháp trong đó có cắt giảm thuế VAT 2%, kỳ vọng sẽ giúp kích cầu và giúp các doanh nghiệp phục hồi nhanh hơn, cũng như giúp Việt Nam phát triển hơn nữa hệ thống y tế, thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực và cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế liên tục của Việt Nam trong tương lai.

Trong khi ông Jacques Morisset, Chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam cũng đánh giá, đây là một gói hỗ trợ tốt vì 2 lý do. Thứ nhất, để ứng phó với cuộc khủng hoảng từ đại dịch, cần có các chính sách chủ động hơn và rõ ràng Quốc hội, Chính phủ đang làm điều đó. Khi chi ngân sách nhiều hơn cho các lĩnh vực bằng nhiều giải pháp như vậy sẽ giúp kích thích nền kinh tế; Thứ hai, gói này không chỉ hướng vào giải quyết, hỗ trợ các vấn đề ngắn hạn mà còn xem xét cả các yếu tố trung và dài hạn, qua đó giúp Việt Nam đạt được vị thế nước có thu nhập trung bình cao, và thu nhập cao trong tương lai.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.500 22.800 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.500 22.760 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.530 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.495 22.900 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.520 22.800 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
Vàng SJC 5c
61.850
62.570
Vàng nhẫn 9999
52.800
53.500
Vàng nữ trang 9999
52.500
53.200