Để thúc đẩy liên kết ở miền Trung

08:39 | 12/07/2022

Theo nhiều chuyên gia, để liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong thời gian tới đạt hiệu quả, cần đánh giá lại tiềm năng và lợi thế phát triển vùng, của từng địa phương, để phát triển, liên kết một cách bền vững.

Chưa như kỳ vọng

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh, thành là Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Đà Nẵng. Toàn vùng có tổng diện tích tự nhiên khoảng 27.881,7 km; dân số hơn 6,5 triệu người. Đây là khu vực có tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhiều giá trị lịch sử, văn hoá. Ngoài ra, trong vùng hiện có 4 sân bay, 4 khu kinh tế ven biển, 1 khu công nghệ cao Đà Nẵng và 19 KCN nằm ngoài các khu kinh tế; có chiều dài đường bờ biển khoảng 600km…

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có nhiều thuận lợi để trở thành trung tâm kinh tế biển, phát triển đa dạng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Những năm gần đây, tuy có nhiều thay đổi, khởi sắc, chuyển dịch theo hướng tích cực, tuy nhiên, nhìn tổng thể, quy mô nền kinh tế nơi này còn tương đối nhỏ, chiếm tỷ trọng khá thấp trong cả nước. Điều đó thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người còn khiêm tốn; nông nghiệp phát triển chưa bền vững, hiệu quả chưa cao, cơ cấu chuyển dịch chậm, chưa rõ nét; một số địa phương tuy có số thu ngân sách lớn nhưng còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp đóng trên địa bàn…

de thuc day lien ket o mien trung
Việc liên kết phát triển kinh tế ở khu vực miền Trung vẫn còn nhiều khó khăn

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó một trong những lý do chính xuất phát từ việc liên kết phát triển vùng còn nhiều hạn chế, đang thiếu các hành lang pháp lý và cơ chế phối hợp, chế tài thực thi phù hợp. Hội đồng Vùng kinh tế trọng điểm chưa có địa vị pháp lý đầy đủ, không đủ nguồn lực để điều phối sự phát triển chung của vùng, chưa có khả năng xây dựng định hướng, chiến lược, quy hoạch vùng... Việc liên kết phát triển vùng đã được ban hành, song chưa mang lại hiệu quả do thiếu cơ chế ra quyết định và điều phối liên kết giữa các địa phương; xuất hiện những xung đột giữa lợi ích địa phương và lợi ích toàn vùng. Hiện tượng cát cứ dẫn đến liên kết phát triển ít được quan tâm, thậm chí còn cạnh tranh với nhau làm triệt tiêu lợi thế của toàn vùng…

Theo PGS. TS. Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, các lợi thế ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung vẫn ở dạng tiềm năng, chưa phát triển trở thành lợi thế cạnh tranh. Xuất phát điểm kinh tế của vùng còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu kém, nặng tư duy địa phương.

Đồng quan điểm, TS. Trần Du Lịch - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia đã chỉ ra 3 điểm nghẽn chính dẫn tới kết quả liên kết phát triển Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chưa như kỳ vọng. Đó là giao thông kết nối vùng, liên vùng kém, không tạo được động lực phát triển. Về cơ chế, có hội đồng vùng nhưng tồn tại nặng tính hình thức, không có vai trò rõ ràng, không gắn kết trách nhiệm. Ngoài ra, vai trò của Nhà nước và doanh nghiệp trong hình thành những chuỗi liên kết theo ngành, lĩnh vực chưa nhiều. Liên kết phát triển vùng chưa tạo được lợi thế, khai thác thế mạnh của vùng mà vẫn còn đầu tư dàn trải và lãng phí nguồn lực.

Tháo gỡ những “điểm nghẽn”

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là một bộ phận quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ với nhiều tiềm năng, lợi thế. Bởi vậy, Nghị quyết 39-NQ/TW đã định hướng trở thành khu vực phát triển năng động với tốc độ nhanh và bền vững, là vùng động lực phát triển cho toàn vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ... Theo nhiều chuyên gia, để liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong thời gian tới đạt hiệu quả, cần đánh giá lại tiềm năng và lợi thế phát triển vùng, của từng địa phương, để phát triển, liên kết một cách bền vững.

Trong đó, cần tập trung vào đẩy nhanh tiến độ xây dựng quy hoạch vùng, quy hoạch địa phương, trong đó xác định biển là trung tâm; đầu tư để liên kết hạ tầng giao thông, cảng biển, hệ thống logicstics; phát triển hệ thống đô thị ven biển bền vững và đồng bộ về mạng lưới, hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị và cơ chế, chính sách tài chính phát triển đô thị; phát triển khoa học, công nghệ phục vụ các chương trình lớn của quốc gia; đổi mới sáng tạo, CMCN 4.0; xây dựng văn hóa vùng; phát triển nguồn nhân lực đào tạo đạt đẳng cấp quốc gia, quốc tế, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng; chống cạn kiệt tài nguyên, già hóa dân số bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai...

Cũng theo TS. Trần Du Lịch, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, phải xây dựng quy hoạch tốt hơn, nhất là tiểu vùng kinh tế gắn kết với cơ cấu hình thành trên 4 lĩnh vực là phân bố lực lượng sản xuất, kết nối hạ tầng giao thông, đào tạo nguồn nhân lực và cuối cùng là giải quyết môi trường chung. Trong tương lai, cần tiếp tục xác định đây là vùng kinh tế trọng điểm để có một số chính sách cần thiết tạo động lực cho vùng phát triển. Thế mạnh từng địa phương lĩnh vực gì thì trong quy hoạch tổng thể vùng bố trí lực lượng sản xuất cho phù hợp để không trùng lặp.

Cũng đề xuất giải pháp thúc đẩy liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, ông Trần Quốc Phương - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, cần phối hợp huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển thông qua việc tổ chức chung Hội nghị xúc tiến đầu tư, huy động nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài và nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư trong vùng. Trong đó, chú trọng hình thức PPP hoặc liên doanh trong thu hút FDI phát triển cơ sở hạ tầng tại các Khu kinh tế ven biển, KCN, cảng biển, đường bộ, đường sắt, năng lượng tái tạo, công nghiệp phục vụ kinh tế biển, phát triển đô thị thông minh, sản xuất trang thiết bị y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trong khi đó, ở cái nhìn cụ thể của một địa phương, theo ông Lê Trí Thanh - Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đề xuất, cần phải trao quyền tự chủ, tự quyết định đối với các cấp chính quyền địa phương và sự quan tâm giải quyết kịp thời mang tầm chiến lược của cơ quan trung ương. Vấn đề quan trọng là cần nghiên cứu cơ chế phát triển vùng. Đã xác định phân vùng kinh tế là phải có những cơ chế đặc thù để phát triển các vùng kinh tế đó; Đồng thời, trong mỗi vùng kinh tế xác định khu vực trọng điểm thì phải có những cơ chế để ưu tiên đột phá phát triển mới tạo sức lan tỏa, làm động lực kích thích cho vùng kinh tế đã được xác định.

Bài và ảnh Nghi Anh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.710 24.020 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.725 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.710 24.010 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.733 24.028 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.725 24.017 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.760 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.200
53.000