ĐHĐCĐ ngân hàng: Tăng vốn là điểm nóng

14:00 | 29/03/2019

Mùa đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) ngân hàng đã bắt đầu. Phóng viên có trao đổi nhanh với TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính, cố vấn cấp cao HĐQT NCB xung quanh những tâm điểm mùa đại hội này.

Nhiều ngân hàng chốt ngày đại hội cổ đông sớm
Tuân thủ Basel 2: Chỉ tăng vốn thôi là chưa đủ!
Ảnh minh họa

Tăng vốn được xem là một trong những “điểm nóng” mùa đại hội năm nay, ông có thể chia sẻ rõ hơn?

Đúng như vậy, chuyện tăng vốn của các ngân hàng đang nhận được rất nhiều sự quan tâm. Như chúng ta biết, đến năm 2020 các ngân hàng phải đảm bảo mức vốn tự có và tỷ lệ an toàn vốn đáp ứng theo quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN. Nếu áp dụng theo Thông tư 41, nhiều khả năng hệ số CAR của không ít ngân hàng sẽ giảm xuống thấp hơn 8% - tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo tiêu chuẩn mới. Điều này khiến các nhà băng hiện đang phải rất nỗ lực để tăng được vốn.

Song cũng cần phải nói thêm rằng, việc tăng vốn không chỉ chịu áp lực từ phía tuân thủ Thông tư 41, mà tăng vốn liên quan tới phát triển hoạt động. Vốn càng lớn, thì hoạt động cho vay càng được mở rộng và phát triển. Tăng vốn cũng là để ngân hàng có thể đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vào hệ thống công nghệ thông tin - yêu cầu bức thiết và khẩn trương trong bối cảnh hiện nay. Như vậy, nhu cầu tăng vốn là để phục vụ cho nhiều mục tiêu khác nhau của ngân hàng.

Tuy nhiên, tăng vốn không phải chuyện dễ. Vốn có thể từ ba nguồn chính. Trước hết là nội bộ: tăng vốn thông qua việc tích luỹ lợi nhuận, nhưng ở đây lợi nhuận phải là lãi thực, chứ không phải lãi chỉ dừng trên sổ sách của ngân hàng. Đó là chưa kể ngân hàng còn phải tính toán tới chuyện chia cổ tức nên nội lực để tăng vốn là rất hạn chế.

Thứ hai, việc phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán thì nhiều ngân hàng đã làm rồi, nhưng nguồn tài chính trên thị trường chứng khoán cũng không nhiều. Và nguồn vốn thứ ba đang được nhiều ngân hàng để ý tới là từ các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cũng không thật sự rộng cửa, bởi thị trường ngân hàng Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tái cơ cấu hệ thống nên các nhà đầu tư ngoại cũng có những thận trọng nhất định.

Còn chuyện ngân hàng niêm yết, hay thay đổi nhân sự?

Vấn đề các ngân hàng lên sàn theo tôi cũng là điểm thu hút, bởi hoạt động kinh doanh năm 2018 của nhà băng ghi nhận những gam màu sáng, cộng thêm việc nợ xấu của nhiều ngân hàng có xu hướng giảm sẽ tác động tích cực tới điều kiện ngân hàng có thể niêm yết.

Song mặt khác, cũng cần nhìn nhận rằng dù thời gian qua một số nhà băng đã chào sàn UPCoM, nhưng để được lên sàn chính thức thì cũng vẫn còn khoảng cách nữa. Bởi tất cả báo cáo tài chính phải thật sự gây ấn tượng tốt, cộng thêm việc lên sàn phải dựa vào thời cơ thuận tiện. Giá cổ phiếu phụ thuộc diễn biến thị trường, đặt trong bối cảnh hiện nay, thị trường chứng khoán đang ở giai đoạn khó đoán định sẽ tác động rất lớn tới điều kiện ngân hàng lên sàn.

Còn với việc “thay máu” nhân sự cấp cao, thực tế thay đổi nhân sự trong ngành Ngân hàng 5 năm vừa qua diễn ra tương đối mạnh mẽ, khi hệ thống có sự cải tổ. Năm nay theo tôi khả năng cao sẽ có nhiều thay đổi trong lãnh đạo của hệ thống NHTM và đây cũng là vấn đề sẽ nhận được nhiều sự quan tâm tại ĐHĐCĐ lần này, trong bối cảnh toàn hệ thống đang tích cực tiến tới Basel II, việc gia nhập CPTPP cũng khiến các nhà băng nội cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài...

Theo ông thì còn những vấn đề gì cần lưu ý?

Về cổ tức, với các NHTMCP họ luôn tìm cách chia cổ tức khoảng 50%/lợi nhuận sau thuế để làm “hài lòng” cổ đông, những vấn đề chia cổ tức là sẽ chia bằng tiền mặt hay bằng cổ phiếu. Trước áp lực tăng vốn hiện nay, sẽ có không ít nhà băng cố gắng thuyết phục cổ đông nhận cổ tức bằng cổ phiếu để giữ lại lợi nhuận tăng vốn.

Với các NHTM Nhà nước, câu chuyện có thể còn khó khăn hơn. Một số NHTM Nhà nước nhiều năm nay vẫn đề nghị được giữ lại lợi nhuận, trả cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, đảm bảo hệ số CAR. Song chưa được chấp thuận.

ĐHĐCĐ thường niên cũng là thời điểm ngân hàng đưa ra các chỉ tiêu kinh doanh. Về lợi nhuận năm nay, tôi cho rằng mặt bằng chung nhiều khả năng sẽ tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khả quan của hệ thống NHTM. Nhưng cũng cần lưu ý về khả năng gia tăng nợ xấu. Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cũng vừa có văn bản yêu cầu các nhà băng phải thực hiện dự thu lãi phù hợp với thực trạng các khoản nợ để đảm bảo tuân thủ đúng quy định, phản ánh đúng kết quả kinh doanh thực của ngân hàng.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.945 23.155 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.954 23.164 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.140 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.963 23.175 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.958 23.158 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.480
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.480
55.830
Vàng SJC 5c
55.480
55.850
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.300
Vàng nữ trang 9999
52.300
53.000