Điểm lại thông tin kinh tế ngày 10/10

07:30 | 11/10/2019

Thị trường mở phiên hôm qua tiếp tục cân bằng ở hai chiều bơm - hút. VN-Index giảm 0,45 điểm (-0,05%) xuống 987,38 điểm; HNX-Index tăng 0,54 điểm (+0,52%) lên 105,16 điểm; UPCoM-Index giảm 0,02 điểm (-0,04%) xuống 56,60 điểm. Thanh khoản thị trường tăng nhẹ. Khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 105 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 9/10
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 8/10
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 7/10
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 30/9-4/10

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 10/10, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.157 VND/USD, tăng nhẹ trở lại 1 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.802 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.202 VND/USD, tăng nhẹ 1 đồng so với phiên 9/10. Tỷ giá trên thị trường tự do không thay đổi ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.180 - 23.200 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tiếp tục giảm 0,06 - 0,15 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 2,02%; 1 tuần 2,23%; 2 tuần 2,38% và 1 tháng 2,68%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD cũng giảm 0,01 - 0,03 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch tại: qua đêm 2,05%; 1 tuần 2,17%; 2 tuần 2,32%, 1 tháng 2,47%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm khá mạnh ở tất cả các kỳ hạn so với phiên 9/10, giao dịch tại: 3 năm 2,81%; 5 năm 2,95%; 7 năm 3,63%; 10 năm 3,95%; 15 năm 4,19%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 10/10, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 18.000 tỷ đồng tín phiếu, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất giảm xuống mức 2,25%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được gần như toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 18.000 tỷ đồng đáo hạn. Như vậy, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường vẫn ở mức gần 90.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,50%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua, lực bán vẫn mạnh, VN-Index đảo chiều giảm điểm. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 0,45 điểm (-0,05%) xuống 987,38 điểm; HNX-Index tăng 0,54 điểm (+0,52%) lên 105,16 điểm; UPCoM-Index giảm 0,02 điểm (-0,04%) xuống 56,60 điểm.

Thanh khoản thị trường tăng nhẹ so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch đạt trên 4.600 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 105 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Tổng cục Hải quan, trong tháng 9, cán cân thương mại cả nước thặng dư 1,61 tỷ USD, lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 9 thặng dư 7,15 tỷ. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 9 đạt 23,36 tỷ USD, giảm 9,8% so với tháng 8, nhập khẩu đạt 21,75 tỷ USD, giảm 3,1%.

Trong 9 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu 194,65 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ 2018, nhập khẩu đạt 187,5 tỷ, tăng 8,4%.

Tin quốc tế

Đoàn đàm phán của Trung Quốc dẫn đầu bởi Phó Thủ tướng Lưu Hạc đã có mặt tại Washington để làm việc với các quan chức Mỹ về những bất đồng trong thương mại. Các vấn đề dự kiến được thảo luận bao gồm chuyển giao công nghệ bắt buộc, quyền sở hữu trí tuệ, dịch vụ, các rào cản phi thuế quan, nông nghiệp và thực thi pháp luật.

Chỉ số CPI và CPI lõi của Mỹ lần lượt không thay đổi và tăng nhẹ 0,1% so với thang trước trong tháng vừa qua, cùng tiêu cực hơn mức tăng 0,1% và 0,3% của tháng 8 và dự báo tăng ở mức 01% và 0,2.

Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần kết thúc ngày 5/10 của Mỹ ở mức 210 nghìn đơn, thấp hơn mức 219 nghìn đơn của tuần trước đó, đồng thời thấp hơn mức dự báo 215 nghìn đơn.

GDP của Anh giảm 0,1% so với tháng trước trong tháng 8 sau khi tăng 0,4% ở tháng trước đó, trái với dự báo không thay đổi của các chuyên gia. Bên cạnh đó sản lượng sản xuất nước này cũng giảm 0,7% so với tháng trước trong tháng 8 sau khi tăng 0,3% ở tháng 7, tiêu cực hơn nhiều so với dự báo tăng nhẹ 0,1%. Cuối cùng, cán cân thương mại của Anh trong tháng 8 thâm hụt 9,8 tỷ GBP, sâu hơn so với mức thâm hụt 9,1 tỷ của tháng 7 nhưng tích cực hơn mức dự báo thâm hụt 10,0 tỷ.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.160 23.350 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.175 23.345 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.164 23..374 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.160 23.360 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.200 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.420
48.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.420
48.770
Vàng SJC 5c
48.420
48.790
Vàng nhẫn 9999
47.550
48.200
Vàng nữ trang 9999
47.200
48.000