Điểm lại thông tin kinh tế ngày 1/10

07:30 | 02/10/2019

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 6.000 tỷ đồng. VN-Index tăng 3,03 điểm (+0,30%) lên 999,59 điểm; HNX-Index tăng 0,8 điểm (+0,76%) lên 105,85 điểm; UPCoM-Index tăng 0,06 điểm (+0,11%) lên 56,84 điểm. Thanh khoản thị trường tăng tích cực. Khối ngoại tiếp tục bán ròng khoảng 151 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 30/9
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 23-27/9

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 1/10, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.165 VND/USD, tiếp tục tăng 4 đồng so với phiên đầu tuần. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.810 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.201 VND/USD, không thay đổi so với phiên 30/9. Tỷ giá trên thị trường tự do giữ nguyên ở cả hai chiều mua vào và bán ra phiên thứ tư liên tiếp, giao dịch tại 23.180 - 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng trở lại 0,08 - 0,12 điểm phần trăm ở hầu hết các kỳ hạn, đặc biệt tăng mạnh 0,49 điểm phần trăm ở kỳ hạn qua đêm so với phiên đầu tuần; giao dịch tại: qua đêm 2,33%; 1 tuần 2,55%; 2 tuần 2,73% và 1 tháng 3,15%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tuần trong khi không thay đổi ở kỳ hạn 2 tuần và tăng 0,02 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 2,06%; 1 tuần 2,18%; 2 tuần 2,32%, 1 tháng 2,45%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm ở các kỳ hạn 3 năm và 7 năm trong khi tăng ở các kỳ hạn còn lại so với phiên 30/9, giao dịch tại: 3 năm 2,91%; 5 năm 3,02%; 7 năm 3,66%; 10 năm 4,04%; 15 năm 4,30%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 1/10, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 18.000 tỷ đồng tín phiếu vẫn với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 2,50%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được gần như toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có gần 12.000 tỷ đồng đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 6.000 tỷ đồng từ thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường tăng lên mức 78.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,50%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua, các chỉ số thị trường biến động với những nhịp tăng giảm đan xen, có thời điểm các chỉ số bị kéo xuống dưới mốc tham chiếu nhưng sau đó lực cầu quay trở lại đã kéo các chỉ số tăng điểm.

Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 3,03 điểm (+0,30%) lên 999,59 điểm; HNX-Index tăng 0,8 điểm (+0,76%) lên 105,85 điểm; UPCoM-Index tăng 0,06 điểm (+0,11%) lên 56,84 điểm.

Thanh khoản thị trường tăng tích cực với tổng giá trị giao dịch đạt gần 5.200 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng khoảng 151 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Nikkei, Chỉ số Nhà quản trị mua hàng PMI lĩnh vực sản xuất của Việt Nam giảm về 50,5 điểm trong tháng 9, cho thấy các điều kiện kinh doanh chỉ cải thiện nhẹ. Mặc dù ghi nhận tới 45 tháng tăng trưởng liên tục trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa, nhưng kết quả PMI hiện ở mức cải thiện yếu nhất kể từ tháng 2/2016.

Liên Bộ Tài chính - Công Thương vừa công bố tăng giá xăng dầu từ 1/10. Cụ thể, giá cơ sở xăng E5 RON92 ở mức không quá 19.780 đồng/lít, tăng 666 đồng/lít so với trước đó; Xăng RON95-III tăng 923 đồng/lít lên 21.066 đồng/lít; Các loại dầu tăng giá lần lượt 438 đồng/lít với dầu diesel 0.05S; tăng 424 đồng/lít dầu hỏa. Dầu mazut 180CST 3.5S tăng 829 đồng/kg. Đây là lần tăng giá trở lại đầu tiên của các mặt hàng này sau 4 kỳ điều chỉnh giảm liên tiếp.

Tin quốc tế

Tổ chức ISM cho biết chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất của Mỹ ở mức 47,8% trong tháng 9, thấp hơn mức 49,1% của tháng 8 đồng thời thấp hơn mức 50,4% theo dự báo. Đây là mức PMI sản xuất thấp nhất kể từ tháng 8/2009.

Theo hãng tin Reuters, Thủ tướng Anh Borish Johnson đang có kế hoạch trình bày lên Ủy ban Châu Âu EC trong tuần này về một thỏa thuận có thể thay thế cho điều khoản “chốt chặn Bắc Ireland”. Hiện tại chưa có thông tin chi tiết về thỏa thuận mới mà ông Johnson chuẩn bị đệ trình, tuy nhiên các quan chức Liên minh Châu Âu tỏ ra hoài nghi về sự đột phá của thỏa thuận mới.

Trong cuộc họp vừa qua, Ngân hàng Trung ương Úc RBA cho biết kinh tế quốc nội đang ở mức tăng trưởng yếu nhất trong vòng 10 năm trở lại đây do chịu ảnh hưởng từ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung. Do vậy, RBA quyết định hạ lãi suất lần thứ ba trong năm nay, từ mức 1,0% xuống còn 0,75%. Thống đốc RBA Philip Lowe cho biết tỷ lệ lạm phát Úc sẽ ở dưới mức 2,0% trong năm 2019 và 2020, sau đó sẽ tăng vượt lên mức này một chút trong 2021.

Liên quan đến thông tin kinh tế Úc, số đơn cấp phép xây dựng nước này giảm 1,1% so với tháng trước trong tháng 8 sau khi giảm mạnh 9,7% ở tháng trước đó, trái với dự báo tăng 2,1%. Bên cạnh đó, chỉ số sản xuất Úc được AIG thông báo ở mức 54,7 điểm ở tháng 9, tăng lên từ mức 53,1 điểm của tháng trước đó.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.600
62.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.600
62.200
Vàng SJC 5c
60.600
62.220
Vàng nhẫn 9999
56.250
57.550
Vàng nữ trang 9999
55.850
57.250