Điểm lại thông tin kinh tế ngày 18/9

07:30 | 19/09/2019

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 14.999 tỷ đồng. VN-Index giảm 1,59 điểm (-0,16%) xuống 995,15 điểm; HNX-Index tăng 0,06 điểm (+0,06%) lên 102,29 điểm; UPCOM-Index không thay đổi, giữ nguyên ở mức 56,41 điểm. Thanh khoản thị trường cải thiện nhẹ. Khối ngoại mua ròng hơn 47 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 17/9
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 16/9
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 9-13/9

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 18/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.143 VND/USD, tiếp tục tăng 8 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.787 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.218 VND/USD, giảm trở lại 12 đồng so với phiên 17/9. Tỷ giá trên thị trường tự do không thay đổi ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.200 - 23.230 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,04 - 0,10 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 2,50%; 1 tuần 2,62%; 2 tuần 2,84% và 1 tháng 3,26%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm khá mạnh 0,05 - 0,09 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch tại: qua đêm 2,23%; 1 tuần 2,30%; 2 tuần 2,42%, 1 tháng 2,56%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng nhẹ ở các kỳ hạn 3 năm, 7 năm và 10 năm trong khi giảm ở các kỳ hạn còn lại, giao dịch tại: 3 năm 2,84%; 5 năm 2,96%; 7 năm 3,61%; 10 năm 4,0%; 15 năm 4,26%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 18/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 15.000 tỷ đồng tín phiếu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 2,50%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được 14.999 tỷ đồng.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 14.999 tỷ đồng từ thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường tăng lên mức 41.999 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,50%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua, nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn giảm mạnh, cả 3 chỉ số trên thị trường tiếp tục giằng co quanh ngưỡng tham chiếu.

Chốt phiên, VN-Index giảm 1,59 điểm (-0,16%) xuống 995,15 điểm; HNX-Index tăng 0,06 điểm (+0,06%) lên 102,29 điểm; UPCOM-Index không thay đổi, giữ nguyên ở mức 56,41 điểm.

Thanh khoản thị trường cải thiện nhẹ so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch đạt trên 5.000 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng hơn 47 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Tổng cục Hải quan, kỳ 1 tháng 9/2019 cả nước xuất siêu 190 triệu USD, đưa thặng dư cán cân thương mại lũy kế từ đầu năm đến hết 15/09 lên mức 5,57 tỷ USD.

Cụ thể, xuất khẩu từ 1-15/9 đạt 10,45 tỷ USD, nhập khẩu đạt 10,26 tỷ. Lũy kế từ đầu năm đến hết kỳ 1 tháng 9, kim ngạch xuất khẩu đạt 181,72 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 176,15 tỷ. Như vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước từ đầu năm đến 15/09 đạt 357,87 tỷ USD.

Tin quốc tế

Fed quyết định hạ 0,25% lãi suất từ biên độ 2-2,25% xuống biên độ 1,75-2% trong bối cảnh kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng tốt khi chi tiêu hộ gia đình, thị trường lao động khỏe mạnh, thu nhập tăng, niềm tin tiêu dùng tích cực là động lực chính cho tăng trưởng, tuy nhiên đầu tư doanh nghiệp và xuất khẩu bị yếu đi, sản lượng sản xuất giảm do tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại và những thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế.

Biểu đồ dot-plot cho thấy các quan chức Fed chia rẽ trong việc Fed sẽ hành động thế nào trong thời gian tới khi 5 thành viên muốn Fed giữ lãi suất ở mức trước đây 2-2,25%, 5 thành viên cho rằng nên giữ lãi suất hiện nay đến cuối năm, trong khi 7 thành viên muốn có thêm một lần cắt giảm nữa trong năm 2019.

Số đơn cấp phép xây dựng và số nhà khởi công trong tháng 8 tại Mỹ lần lượt ở mức 1,42 triệu đơn và 1,36 triệu căn, cao hơn so với mức 1,32 triệu đơn và 1,19 triệu căn của tháng 7, đồng thời tích cực hơn dự báo 1,31 triệu đơn và 1,25 triệu căn.

CPI và CPI lõi của nước Anh lần lượt tăng 1,7% và 1,5% so với cùng kỳ trong tháng 8, thấp hơn so với mức tăng 2,1% và 1,9% của tháng trước đó đồng thời thấp hơn dự báo cùng tăng 1,8% của các chuyên gia. Thị trường chờ đợi nhận định chi tiết hơn về CPI và quyết định lãi suất chính sách của BOE sẽ được công bố sau cuộc họp của ngân hàng trung ương này trong ngày hôm nay 19/9.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950