Điểm lại thông tin kinh tế ngày 20/11

07:30 | 21/11/2019

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 3.000 tỷ đồng. VN-Index dừng chân ở mức 1.000,56 điểm, giảm 7,79 điểm (-0,77%); HNX-Index giảm 0,58 điểm (-0,55%) xuống 104,91 điểm; UPCoM-Index giảm 0,14 điểm (-0,25%) xuống mức 56,88 điểm. Thanh khoản thị trường giảm. Khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 18 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 19/11
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 18/11
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 11-15/11

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 20/11, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.139 VND/USD, tăng trở lại 4 đồng so với phiên trước đó. Theo đó, tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.783 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.198 VND/USD, tiếp tục giảm 3 đồng so với phiên 19/11. Phiên thứ 3 liên tiếp, tỷ giá trên thị trường tự do không thay đổi ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.200 - 23.230 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng mạnh 0,19 - 0,29 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó; cụ thể: qua đêm 2,37%; 1 tuần 2,43%; 2 tuần 2,53% và 1 tháng 2,72%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,02 - 0,03 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch tại: qua đêm 1,72%; 1 tuần 1,82%; 2 tuần 1,93%, 1 tháng 2,11%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn, giao dịch tại: 3 năm 2,26%; 5 năm 2,36%; 7 năm 3,15%; 10 năm 3,65%; 15 năm 3,75%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 19/11, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 5.000 tỷ đồng tín phiếu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 2,25%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được gần như toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 8.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 3.000 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giảm xuống ở mức 33.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, tuy nhiên không có giao dịch phát sinh.

Thị trường trái phiếu ngày 20/11, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 3.900/4.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 97,5%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm huy động được 400/500 tỷ đồng, kỳ hạn 10 đến 30 năm huy động được toàn bộ 3.500 tỷ đồng gọi thầu.

Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5 năm giảm mạnh 48 điểm xuống mức 2,37%/năm; các kỳ hạn khác giảm từ 1-4 điểm so với phiên trước.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua chịu áp lực rung lắc mạnh, các cổ phiếu vốn hóa lớn đồng loạt giảm giá, đẩy các chỉ số lao dốc. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index dừng chân ở mức 1.000,56 điểm, giảm 7,79 điểm (-0,77%); HNX-Index giảm 0,58 điểm (-0,55%) xuống 104,91 điểm; UPCoM-Index giảm 0,14 điểm (-0,25%) xuống mức 56,88 điểm.

Thanh khoản thị trường giảm so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch ở mức trên 4.800 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng nhẹ gần 18 tỷ đồng trên cả ba sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực từ 1/1/2020.

Thông tư quy định lộ trình giảm dần tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn: 1/1/2020 - 30/9/2020 là 40%; 1/10/2020 - 30/9/2021 là 37%; 1/10/2021 - 30/9/2022 là 34%; và từ 01/10/2022 là 30%.

Bên cạnh đó, Thông tư quy định tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi là 85% đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ngoài ra, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41 phải gửi văn bản đến Ngân hàng Nhà nước trước ngày 1/1/2020, nêu rõ lý do tiếp tục thực hiện tỷ lệ an toàn vốn và giải pháp, lộ trình để đảm bảo tuân thủ Thông tư 41 chậm nhất kể từ ngày 1/1/2023.

Tin quốc tế

Biên bản phiên họp chính sách tháng 10 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed vừa được công bố cho thấy Fed sẽ không giảm lãi suất một lần nữa trong ngắn hạn trừ khi nền kinh tế có dấu hiệu suy yếu một cách cụ thể.

Sau khi cắt giảm lãi suất lần thứ 3 trong năm nay vào tháng trước, Fed cho thấy chính sách tiền tệ hiện nay đã được hiệu chuẩn tốt để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy lạm phát, bất chấp việc Tổng thống Donald Trump kêu gọi cắt giảm chi phí đi vay xuống mức 0 hoặc thấp hơn.

Theo các quan chức Fed, hiện nay chi tiêu tiêu dùng đang tăng, thị trường lao động khỏe mạnh, căng thẳng thương mại có thể giảm bớt, vì vậy họ muốn tiếp tục quan sát các hoạt động kinh tế trước khi có bất kỳ hành động nào tiếp theo. Fed cũng dự báo kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng 2,2% trong năm nay.

Chỉ số PPI tại nước Đức giảm 0,2% so với tháng trước trong tháng 10 sau khi tăng 0,1% ở tháng trước đó, trái với dự báo không thay đổi (0,0%) của các chuyên gia. So với cùng kỳ năm trước, giá sản xuất tại Đức trong tháng 10 đã giảm 0,6%.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.105 23.285 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.101 23.281 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.100 23.270 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.100 23.270 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.093 23..303 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.050
50.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.050
50.450
Vàng SJC 5c
50.050
50.470
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.500
50.250